YÊU CHO ROI CHO VỌT…. Ngô Thị Thanh Thủy

146
Đọng lại trong tôi, ngoài sự rèn dũa khắc khe về nghề báo, còn thấy ở nhà báo Hồ Khánh Quý cái “tình” và đặc biệt là khí phách của một con người, nhất là “người làm báo”.

Nhà báo Hồ Khánh Quý (đeo kính) và các nhà báo của VOV2
Nhà báo Hồ Khánh Quý (đeo kính) và các nhà báo của VOV2
Tôi vẫn nhớ như in buổi đi làm đầu tiên đến phòng chương trình phát thanh”Câu lạc bộ dành cho những người cao tuổi” Đài TNVN 15/11/1990. Khi nhà thơ Trần Ngọc Thụ, Trưởng Ban Chuyên đề lúc ấy, đưa tôi xuống phòng làm việc của chương trình để ra mắt thi cô Hồ Khánh Quý, lúc ấy là Phó Ban trực tiếp duyệt các chương trình khối Văn – Xã (gồm các phòng: Văn xã, Phụ nữ, Người cao tuổi), đang bàn việc với anh Thanh Tùng, Chủ nhiệm chương trình, cùng các anh chị biên tập viên: Văn Quân, Đạo Tĩnh…. Căn phòng nhỏ hẹp bên ngách của khu 45 Bà Triệu, chỉ kê được ba bàn, ai ngồi đánh máy chữ thì người khách đứng biên tập tư liệu. Tôi ra mắt cô Quý và cả phòng bằng chiếc máy cát – sét ngâm thơ – bài thơ “Hoa sữa” xếp Thụ mới sáng tác. Anh Tùng bật cát – sét lên, tất cả lắng nghe và gật gù khiến “con bé” thấy sướng lắm. Mọi người khen ngợi và giao luôn cho tôi thể hiện một số bài thơ của các cụ thính giả, các danh nhân cho chương trình phát thanh sắp thực hiện. tôi đang lúng túng về cách xưng hô thi cô Quý lên tiếng, giọng vừa hài hước vừa rành rẽ: “Bây giờ thế này, anh Thụ là nhà thơ không có tuổi, như người ta vẫn nói cho phép “ngâm sĩ” gọi bằng anh. Còn tôi không có chuyện người đáng tuổi con gọi là chị đâu, nói luôn cho rõ ràng nhé!”. Tuy giọng có chút hài hước vẫn khiến con bé linh mới tò te thấy hơi sờ sợ. Song từ đó tôi hoàn toàn thoải mái khi xưng hô: “anh Thu”, “cô Quý” (anh Thu hơn cô Quý hai tuổi).
Khác với phong cách duyệt bài của xếp Thụ – Thường là bắt lỗi về ý, chỉ ra các sai rồi yêu cầu về tự sửa, khiến lính mới như tôi tâm phục khẩu phục lắm, còn cô Quý lại rèn cho đến nơi, đến chốn về chữ nghĩa, về cách lên kế hoạch thực hiện vệt bài như thế nào. Cô vốn rất uyên thâm, gần như “từ điển sống” về kiến thức và chữ Hán cổ, Việt cổ, đố ai dung từ sai hay thừa chữ, thừa ý mà không bị bắt lỗi. Có lần anh Thanh Tùng đã “được” cô “bút phê” bằng hai câu lục bát để nói về cái lôi nhiều người mắc đi mắc lại như một thói quen: “ đề cập đến”. Cô Quý nói, đã “cập” thì không “đến” nữa nhé, thế mà “chúng mày” cứ mắc mãi (cô chép miệng đầy thất vọng). Tôi có lần bị cô “sạc” cho một trận vì tiết mục “Nghìn năm Văn hiến” mà tôi sáng tạo thực hiện vào thứ năm hàng tuần. Dù chương trình lúc ấy đang được hoan nghênh, nhưng sau vệt bài về “Triều đại Hùng Vương” chấm dứt, tôi lại giới thiệu về một ngôi chùa ở Bắc Giang. Cô mắng: “Sao đang cho các cụ nghe triều đại huy hoàng thế rồi độp một cái giới thiệu ngôi chùa làng vậy?”. Thế là con bé phải lên kế hoạch, sau “Triều đại Hùng  Vương” là vệt bài về “Thời Lý huy hoàng”, “Triều Trần rực rỡ”, rồi “Kinh thành Thăng Long qua các Triều đại”, đến các loại hình nghệ thuật dân gian của “Thăng Long”: Như Ca trù, Ngâm thơ cổ, Xẩm, Tuồng, Diễn ca… Quả là làm việc với cô Quý nhiều lúc “toát mồ hôi”, nhưng khi chương trình hoàn toàn hiệu quả, cảm thấy nhẹ nhõm và “sướng” lắm. Đến giờ tôi vẫn còn trân trọng lưu giữ một số văn bản mà cô ”bút phê” chữ “tốt”, chẳng hạn chương trình giới thiệu về các làn điệu ngâm thơ cổ của Việt Nam, trong đó tôi vừa dẫn, vừa minh họa ngâm thơ luôn… Các anh chị em biên tập – Phóng viên của chương trình Câu lạc bộ dành cho những người cao tuổi hồi ấy đều là những người “không phải dạng vừa đâu”, nào là Thanh Tùng một thời vang bóng “hầu chuyện các cụ”, nào là Văn Quân sang sảng “kể chuyên danh nhân”, Đạo Tĩnh nữ sỹ đa tài, bé nhất là Thanh Thủy cũng có nhiều thư các cụ khen ngợi…. Vậy mà cứ thấy cô Quý cất tiếng “e hèm” đi đến đầu phòng là chột dạ “Thôi, chương trình chắc đổ rồi”. Cô Quý sắc sảo, có uy với chúng tôi là  thế, nhưng cũng nhiều lúc khiến tôi ấm ức vì một vài ngôn từ rất khó nghe và thời gian tôi được làm quân của cô chỉ hai năm, vậy mà khi cô về hưu, tôi lại nhớ và năng đến chơi với cô nhất. Nhiều lính tráng khác dường như cũng đối với cô như vậy. Vì sao? Các cụ bảo: “Khẩu xà, tâm Phật”, có lẽ đúng. Hôm chia tay cô về hưu 1992, sau tiệc nhẹ vui toàn Ban, tôi về Phòng thấy bang khuâng. Bỗng anh Thanh Tùng về bảo: “Em lên phòng cô Quý đi, cô có nhiều điều trăn trở về em lắm”. Tôi lên, nghe cô hỏi han chuyện riêng tư, có vẻ lo lắng như người mẹ có con gái “bom nổ chậm” mà ngấp nghé đầu ngõ lại là mấy thằng “mất dạy”. Tôi nói cứng: “Cô yên tâm, cháu tự biết ứng sử thế nào!”. Cô nhìn tôi chép miệng: “Đúng là không phải dạng vừa đâu”. Thì chúng tôi học ở sếp đấy chứ đâu! Cón cái câu “tri túc bất nhục” cô vẫn khẽ khàng bảo tôi, càng nhẫm lại càng ngấm. Tôi càng hạnh phúc khi có người sếp đâu tiên “yêu cho roi, cho vọt” như cô Quý!

Nguồn tin: Báo VOV Tiếng nói Việt Nam