BÀI 1 – LỊCH SỬ MẢNG THƠ ĐỐ TỤC GIẢNG THANH CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG

4435

Nữ sĩ Xuân Hương nổi tiếng với những sáng tác bằng thơ nôm được lưu truyền trong dân gian, trong đó có mảng thơ “đố tục giảng thanh”. Mảng thơ này gắn liền với lần làm dâu đầu tiên của bà.
Cuối tháng Chạp năm 1801, ba chàng tú đất Phong Châu về Thăng long chơi. Nho Trâm và Tú điếc rủ tổng Kình vào thăm nhà thầy đã quá cố. Nhà thầy ở thôn Tiêu Thị, tổng Tiểu Túc, huyên Thọ Xương (nay ở khoảng phố Nhà Chung – Lý Quốc Sư – Hà Nội) . Nơi đây có vợ và con gái thầy đang sống .
Tiếp khách là con gái thầy , tên Xuân Hương đã gần 30 tuổi mà vẫn chưa lấy chồng . Bà ao ước lấy được người chồng biết văn chương chữ nghĩa:
“Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
Mõ thảm không khua mà cũng cốc
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?
Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
Sau giận vì duyên để mõm mòm.
Tài tử văn nhân ai đó tá?
Thân này đâu đã chịu già tom.”
(Tự tình, viết khi lỡ thì quá lứa)
Thử tài ba chàng tú, Hồ Xuân Hương ra vế thách đối:
“Tối ba mươi, khép cánh càn khôn, kẻo nữa Ma Vương đưa quỷ tới”
Tổng kình đối lại:
“Sáng mùng một, mở then tạo hóa, để cho thiếu nữ rước xuân vào”
Hai vế thật đối! Thật chỉnh!
Đã hơn chục năm rồi (kể từ ngày Quang Trung đại phá quân Thanh), anh đồ Chiêu Hổ về quê dạy học, bà mới gặp được người văn hay chữ tốt như thế.
Tổng Kình (tổng Cóc) tuy đã có 2 vợ nhưng rất phong độ, hào hiệp lại sinh ra trong gia đình khoa bảng (ông nội là Tiến sĩ Nguyễn Quang Thành được vinh danh ở bia 80 quốc tử giám Hà Nội) đủ các tiêu chuẩn chọn chồng của Hồ Xuân Hương.
Mối tình sét đánh giữa cặp trai tài gái sắc đã nảy nở. Để thúc chín sớm mối tình ấy, Hồ Xuân Hương đã mời trầu Tổng Cóc:
Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quyết rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôi.
(Mời trầu)
Mối tình ấy đã kết trái, năm 1802 Hồ Xuân Hương trở thành vợ ba tổng cóc.
Hồ Xuân Hương về làm vợ tổng cóc ở làng Giáp ( Tứ xã Phong Châu Phú thọ ngày nay)
Hàng năm quê của tổng Cóc có lễ hội Trò Trám (11 – 12 tháng Giêng) Với tín ngưỡng phồn thực của người VIệt. Bời thế, những điều mà ở nơi khác cho là tục, là dâm thì ở đây cho là thường, chúng được bày ra trước bàn dân thiên hạ. Đi hội làng HXH tức cảnh vận bài thơ đánh đu:
“Bốn cột khen ai khéo khéo trồng
Người thì lên đánh kẻ ngồi trông
Trai du gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song
Chơi xuân có biết xuân chăng tá?
Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không.”
Nghĩa đen của bài thơ tả trò đánh đu trong phần hội, nghĩa ngầm chỉ… phần lễ, 2 câu kết chỉ các linh vật được thờ trong miếu làng.
Tổng Cóc dựng chòi trông cá giữa các dộc ao để tiện bề trông nom và cũng là nơi tụ tập của 4 tài tử văn nhân (Tổng Cóc, Hồ Xuân Hương, Tú Điếc, Nho Trâm).
Tại đây ngoài những cuộc thưởng nguyệt ngắm trăng bình thơ phú còn tha hồ tán gẫu những chuyện tiếu lâm (thanh tục). Từ những chuyện cười, chuyện tiếu lâm Hồ Xuân Hương phát triển thành mảng thơ “thanh thanh, tục tục”. Cũng như chuyện cười, chuyện tiếu lâm, chuyện ngụ ngôn, mảng thơ thanh thanh tục tục là tiếng cười sảng khoái của người dân trong lao động và trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Việt.
Tiếp theo, vịnh chiếc quạt, vịnh quả mít… ra đời, tạo thành mảng thơ “Đố Tục Giảng Thanh” mang tên HXH.
Khoảng 2 năm cắt cỏ, quanh quẩn bên chòi trông cá nhà tổng Cóc, HXH cảm thấy quá mệt mỏi bởi công việc không phù hợp với thân thể liễu yếu đào tơ của bà. Thêm phần, nhớ thương mẹ già đơn bóng ở phương xa. Phần nữa, bà quá bận lòng với tiếng bấc tiếng chì của chị cả chị hai.
Năm 1804, dẫu còn nặng tình với chàng Cóc, mình trần (không có chửa, mặc dù bà ao ước có một mụn con mà không được) bà vẫn phải dứt áo ra đi.
Sau nhiều đêm giằng xé giữa đi và ở, một buổi sáng sớm bà chào chị cả chị hai, chia tay tổng Cóc, bà tay nải quần áo xuôi dòng về Thăng Long. Đây là cuộc chia tay của hai người biết chữ, hiểu nghĩa. Bà gửi lời từ biệt với tổng Cóc:
“Chàng cóc ởi! Chàng cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Ngàn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi”
Hai câu đầu thể hiện tình cảm của bà còn nồng còn nặng với Tổng Cóc. Bốn lý do mà bà phải ra đi, lý do chính là về chăm nuôi mẹ già, nhưng bà chỉ lấy cớ môi trường sống không phù hợp với bà.
Xưa, Mị Châu dùng áo lông ngỗng để dẫn đường cho Trọng Thủy đi tìm. Sau, bà dùng điển tích “cóc bôi vôi” để mách chàng Cóc chốn bà về.
Được tổng cóc tạo điều kiện, bà Xuân Hương về Thăng Long dựng Cổ Nguyệt Đường để buôn bán mưu sinh, nuôi mẹ già và chờ chàng Cóc.
Từ đây bà đoạn tuyệt với thơ “tục tục thanh thanh.”
Những năm đầu sống ở Cổ Nguyệt Đường , bao đêm bà thức trắng, uống rượu và ngắm trăng một mình:
“Canh khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn!
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con”
(Tự tình)
Bà chủ Cổ Nguyệt Đường chờ mãi, chờ mãi mà chàng Cóc không đến tìm.
Mười năm sau bà mới tái giá với ông Tham trấn Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển.
Gặp bà ở CNĐ, Tốn Phong khen bà: “Học rộng mà thuần thục, dùng chữ ít mà đầy đủ, từ mới mà đẹp đẽ, thơ đúng phép mà văn hoa, thực là một bậc tài nữ “ (Lời tựa Lưu Hương Ký)
Quanh đền Trấn Quốc người ta chỉ biết bà chủ CNĐ Xuân Hương là người Tràng An thanh lịch, là người Xứ Nghệ nặng nghĩa, là con thầy đồ gia phong thi lễ, là gái Kinh Bắc xinh đẹp trữ tình.

Tuấn Trường Sơn