HỒ PHI TÍCH THƯỢNG THƯ 3 BỘ , PHÒ TÁ 3 TRIỀU

185

LTS: “Vạn cổ thanh phong Đường bộc xạ / Tam triều nguyên lão Tống bình chương” – là câu đối ca tụng công đức của Quỳnh quận công Hồ Phi Tích, người từng giữ các chức “Phó Tể tướng”, Thượng thư bộ Công, Thượng thư bộ Hình, Thượng thư bộ Binh. Ông là người Quỳnh Đôi đóng góp nhiều công trạng cho đất nước, nhiều công lao cho quê hương.

HỒ PHI TÍCH THƯỢNG THƯ 3 BỘ , PHÒ TÁ 3 TRIỀU
Nhân dịp tròn 1 năm Mộ và Nhà thờ Hồ phi Tích được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia, xin phép được làm mới tư liệu cũ bằng cách đăng lại bài của ông Phan Hữu Thịnh trên báo Nghệ An. Bài này chép lại trong sách Quỳnh Đôi – Làng văn hóa xã anh hùng của ông Thịnh. (QĐ)

Khách xa đến làng Quỳnh sẽ bắt gặp một nhà bia đứng cạnh đường liên hương, đúng nơi tiếp giáp giữa hai xã Quỳnh Hậu và Quỳnh Đôi. Trông bề ngoài nhà bia không cao to bề thế, nhưng đi vào quan sát cái bia lại chứa ẩn nhiều dấu ấn đặc biệt. Bia cao 1,7m từ chân đến đỉnh đếm đủ 18 bậc. Bệ và bia là một khối đá nặng hàng tấn. Bia có bốn mặt bằng nhau, cỡ 0,8mx0,42m. Trên bia khắc chữ Hán, nét tinh tế, rất đẹp. Mặt trước chữ nổi đề: Thượng thư Quỳnh Quận công bi (bia). Mặt sau: Năm Tân Hợi (1731) dựng bia, tên và địa chỉ người khắc. Mặt phía đông: Trả tiền mua ruộng, thuê đắp đường cái, có hai cầu đá lớn chở từ Đông Sơn qua biển về. Mặt phía tây: lập huệ điền 21 mẫu cấp Quỳnh Đôi 11 mẫu, Bào Hậu 10 mẫu. Nội dung khắc trên bia do Quỳnh Quận công tự viết về mình, đơn giản, khiêm nhường là vậy. Nhưng nếu suy ngẫm thì mới nhận ra phần sâu kín. Ngày 27/8/1994, giáo sư tiến sĩ Nhật Bản Miclo Suênar đến đây xem xét, quay phim, chụp ảnh. Ông ta tấm tắc khen ngợi cho là một tấm bia hiếm thấy và còn ước nếu được phép sẽ xin đưa sang Nhật! Từ năm dựng bia đến nay đã 267 mùa thu, trăng tròn, trăng khuyết, bia đá Quỳnh Quận công vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”.
Quỳnh Quận công là ai vậy? Đó là Hồ Phi Tích, một danh nhân làng Quỳnh, có nhiều giai thoại lý thú về ông lúc còn sống và tiếng thơm tấc lòng vì nhà, vì làng, vì nước của ông được lưu truyền hơn 300 năm nay.
Hồ Phi Tích sinh ngày 15 – 9 năm Ất Tỵ (1665), từ chi họ Hồ Phi, một chi họ đời nối đời khoa bảng, giàu tài hoa nhưng thanh bạch, trung thực. Ông nội là sinh đồ (tú tài) Hồ Hiến. Cha là Hồ Thế Anh đỗ hương cống (cử nhân), thi hội trúng tam trường, làm đến chức thị lang bộ Hộ được phong tước Hầu, rất mực thanh liêm, Hồ Phi Tích là ông chú ruột Hồ Phi Phúc (cha Hồ Thơm – Nguyễn Huệ) và Hồ Phi Diễn (cha Hồ Xuân Hương), là ông nội của tú tài Hồ Phi Hội, tác giả cuốn Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên nổi tiếng, là tổ năm đời Hồ Phi Huyền, tác giả cuốn triết học Nhân đạo quyền hành.
Một giai thoại kể rằng, trưa hè năm Canh Thân (1680), trời nắng như đổ lửa, tan buổi học, cậu Tích chạy lên hồ “Cây” cách làng gần nửa cây số để tắm. Lúc lên bờ thì ôi thôi quần áo đã không cánh mà bay. Biết tính sao đây? Giữa lúc nguy nan, bổng thấy một cô gái độ tuổi trăng tròn, cứ đi đi lại lại qua hồ như có chiều suy nghĩ. Cô ấy vội vã đi về phía làng Bèo, một lát trở lại, đi qua hồ, bỏ một gói gì đó rồi đi luôn. Cậu vội rón rén lên. Gói đó là một cái quần nâu. Cậu mừng ra nước mắt trước một nghĩa cử vô tư mà tế nhị. Ngày sau, cậu lên làng Bèo dò hỏi, biết tên cô là Hồ Thị Tăng, về sau ơn này được đền đáp.
Năm Tân Dậu (1681), cậu Tích 17 tuổi cùng người em họ là sinh đồ Hồ Sĩ Tôn 19 tuổi, hai anh em rủ nhau cuốc bộ ra làng Tả Thanh oai, tỉnh Hà Đông để vừa làm thầy đồ, vừa ôn luyện văn bài. Thi thoảng hai anh em đến chơi nhà ông giám sinh Đàm Lam để bàn luận văn chương. Hai chàng xứ Nghệ đã lọt vào mắt xanh cô gái rượu của ông giám sinh. Cô Đàm Thị Quỳnh tuy là phận gái, nhưng cô cũng ít nhiều theo đòi nghiên bút. Cô còn có tiếng về tài đoán chữ. Một hôm, nhân vui chuyện, hai anh em ngỏ lời nhờ cô đoán cho. Cô vui vẻ nhận lời, bảo mỗi người viết một chữ. Hồ Phi Tích viết chữ Sử là khiến. Hồ Sĩ Tôn viết chữ Dụng là dùng. Xem chữ cô bảo: người viết chữ dụng, mai sau tài danh sẽ lớn nhưng e rằng sự nghiệp không được lớn. Còn người viết chữ sử, sau này tài danh và sự nghiệp đều lớn… Hai anh em mỉm cười, cảm ơn và cũng chỉ biết vậy. Cô Quỳnh đem chuyện này thưa với cha. Ông giám sinh bèn mời nuôi Hồ Phi Tích làm gia sư, ngỏ ý gả cô Quỳnh rồi cấp tiền về kinh học trường Quốc tử giám. Tài đoán chữ của cô Quỳnh thật nghiệm. Hồ Sĩ Tôn về sau đỗ giải nguyên, đi thi hội hai lần đều chỉ trúng tam trường, đỗ đầu hai khoa thiên hạ Vọng sĩ và thiên hạ Cống sĩ, thầy học của nhà vua, tiếng hay chữ lừng lẫy, nhưng chỉ làm đến chức Tham nghị Binh bộ quân vụ. Còn Hồ Phi Tích năm 1684 đỗ hương cống, năm 1700 đỗ Hoàng Giáp, làm đến chức Bồi Tụng (như phó tể tướng) được phong tước Quỳnh quận công.
Sau khi đỗ hương cống, để đáp nghĩa đền ơn, Hồ Phi Tích cưới gần như đồng thời cô Tăng ở Bào Hậu và cô Quỳnh ở Tả Thanh oai làm vợ. Về sau ông cho hai con là Hoàn nghĩa hầu Hồ Phi Thừa ra Tả Thanh oai và Hoàn nghĩa bá Hồ Phi Lại lên Bào Hậu, ở lại đó để sớm hôm lo việc hương khói cho ông bà bên ngoại.
Đối với làng Bào Hậu, ông đã cúng 10 mẫu ruộng làm huệ điền, đã bỏ tiền cưới một cái chợ, gọi là chợ Hôm. Còn với làng Quỳnh, ông lập huệ điền 11 mẫu, mua đất thuê đắp dường dài gần 2km có hai cầu đá lớn. Năm 1714, khi làm Tham chính ở Thanh Hóa, ông đã khuyến khích và giúp đỡ hai anh em ông Trương Trung, vốn ở làng Phú Nghĩa, do tị nạn ra đây trở về làng Quỳnh, tạo thành hai nhánh họ Trương, cùng vun đắp một cộng đồng đông vui của các dòng họ. Công lao lớn nhất của ông là đã khuyên bảo bà vợ Đàm Thị Quỳnh cố học thành thạo nghề dệt lụa Hà Đông. Năm 1685, thân gái dặm trường, bà đã gánh một gánh hồi môn khá nặng. Đó là khung cửi và các dụng cụ dệt lụa. Từ đây, làng Quỳnh, một làng vốn đói nghèo xơ xác đã mở thêm một nghề sinh sống. Nghề lụa đã góp phần lớn “dệt” nên nhiều ông tú, ông nghè. Hương ước của làng còn ghi lời ông căn dặn: “Người trong một làng ăn ở với nhau cốt lấy thuận hòa làm đầu, xử đoán một việc gì cốt lấy sự công bằng… khi nào cũng lấy lễ nghĩa làm trọng”.
Đối với đất nước, kể từ năm ra nhậm chức (1697) đến năm về hưu (1733), suốt 37 năm ấy, ông đã đảm nhiệm nhiều trọng trách khác nhau, lần lượt làm Thượng thư các bộ Công, Hình, Binh được thăng đến chức Bồi tụng, việc gì ở đâu ông đều làm giỏi được nhiều lần khen thưởng. Sau đây xin nêu một số thành tích lớn:
Năm 1702, ông làm Đốc đồng các xứ Hải Dương và Quảng Yên, một vùng hải tần thường bị trộm cướp và giặc bể quấy phá. Ông thực hiện chủ trương giản thanh và chăm lo cải thiện dân sinh. Được dân ủng hộ, được quan quân địa phương phối hợp, ông đã truy bắt được bọn cầm đầu trộm cướp trong đất liền và tiêu diệt được giặc tàu Ô từ biển tràn vào. Tình hình được ổn định, nhân dân rất mến phục. Ông được thưởng 200 quan tiền và được ban năm đạo thủy binh để gìn giữ vùng Yên Quảng.
Năm 1713, nhiều nơi ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình bị đói nghiêm trọng. Ông được phái vào giải quyết. Vào đây, một mặt ông khuyên bảo dân cố gắng trồng cây ngắn ngày, tương trợ lẫn nhau, lá lành đùm lá rách, mặt khác ông mở cuộc vận động quyên góp thóc gạo nhà giàu, cùng với quỹ nghĩa thương, ông cho phát chẩn theo tiêu chuẩn khác nhau. Nạn đói được đẩy lùi. Nhân dân ở đây xin triều đình ban thưởng ông cho xứng đáng là vị nhân quan.
Năm 1721, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc. Tại kinh đô nước người, ông đã tâu trình khiến vua nhà Thanh càng hiểu thêm: Nước ta trong đất nước thì yên ổn, lễ nhạc thì rõ ràng, đầy đủ. Vua nhà Thanh lấy làm khen ngợi, nên số lượng ban tặng gấm đoạn và đồ vật lần này có hậu hơn mọi lần trước. Hồ Phi Tích đem về dâng tiến.
Năm 1725, ông được cử cùng Thám hoa Vũ Đông Tế đi điều tra khảo sát biên giới hai tỉnh Tuyên Quang và Hương Hóa giáp với Trung Quốc. Lần đi này phải vượt qua 80 thác, phải trèo qua hàng chục núi, vách đá chấm trời, đường xa thế hiểm, hơi lam nóng như đốt, giá lạnh buốt thấu xương, tính ra mất ba năm mới xong công việc. Kết quả đã dành được mỏ Tụ đồng cho Tổ quốc, cắm lại các mốc biên giới, chấm dứt được sự tranh chấp giữa đôi bên.
Ngoài ra, những thời ông làm quan ở Kinh, ông không quên cái việc “Thầy đồ nghiệp dư xứ Nghệ” đã giảng dạy hàng 500 học trò và đã từng được cử vào cung giảng dạy các hoàng tử. Ông còn để lại cho đời hai tác phẩm nổi tiếng Thượng quốc quang quan tự và Cùng đạt gia huấn.
Năm 1733, lúc 69 tuổi, ông xin vua Lê Thuần Tông cho về quê trí sĩ. Năm sau ông mất, hưởng thọ 70 tuổi. Nhà thờ ông (phía sau nhà bia) còn lưu giữ nhiều câu đối ca tụng công đức của ông, trong đó có câu:
Vạn cổ thanh phong Đường bộc xã
Tam triều nguyên lão Tống bình chương.
Tạm dịch:
Vạn cổ tiếng thơm Đường tướng quốc
Ba triều phò tá Tống thần xưa.