HỒ XUÂN HƯƠNG ĐÍCH THỰC LÀ “BÀ CHÚA THƠ NÔM”

4697

Giai thoại Tổng Cóc đến Phủ Vĩnh Tường tìm giọt máu của mình mà Hồ Xuân Hương giữ, kết quả chỉ là đứa trẻ vắn số.
Sàng đi, lọc lại chỉ còn lại sợi chỉ xâu chuỗi cuộc đời Hồ Xuân Hương:
Đời chồng thứ nhất là Tổng Cóc, chồng thứ hai là ông Phủ Vĩnh Tường.
Giãi mã bài thơ khóc ông Phủ Vĩnh Tường, khẳng định Trần Phúc Hiển là ông Phủ Vĩnh Tường, sẽ mở khóa nốt phần còn lại cuộc đời bí ẩn của Hồ Xuân Hương.
Bài thơ khóc ông Phủ Vĩnh Tường thâm quá! Bà khóc ông chồng cựu tri phủ vùng đấy ấy (nhưng chưa đổi tên), để làm thông điệp gửi người đương thời và hậu thế nhằm minh oan cho chồng.
Tam nguyên Vị Xuyên Trần Bích San, xuất phát điểm từ bài khóc ông Phủ Vĩnh Tường để nghiên cứu Hồ Xuân Hương, đã lạc đường.
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn theo chỉ dẫn của Lưu Hương Ký lần tìm. Giáo sư tìm được trong cuốn “Quốc sử di biên” của Thám Hoa Phan Thúc Trực người Nghệ An, trong đó có nói Tham Hiệp Trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển có người thiếp tên Xuân Hương giỏi làm thơ, giỏi chính trị. Giáo sư lần ngược trở lại, đến bài khóc ông Phủ Vĩnh Tường thì tắc đường.
Đến bây giờ, nhiều người vẫn còn nghi hoặc: Xuân Hương làm thơ “thanh thanh, tục tục” có thật hay chỉ là huyền thoại như Trạng Quỳnh? Xuân Hương làm thơ nôm truyền tụng và Xuân Hương viết Lưu Hương Ký là một hay là hai?
Tôi đã giải mã được bài thơ “Khóc ông phủ Vĩnh Tường” và sâu chuỗi được cuộc đời Hồ Xuân Hương. Đây là một luận cứ để khẳng định Xuân Hương làm thơ “thanh thanh, tục tục” và Hồ Xuân Hương là một. Bà là Hồ Xuân Hương (1772 – 1822) quê Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu – Nghệ An, con cụ Hồ Phi Diễn.
Người ta lấy hai cớ để nghi hoặc Xuân Hương làm thơ nôm không phải Hồ Xuân Hương.
Thứ nhất: “Đây là tất cả thơ văn của đời tôi từ trước đến nay, nhờ anh làm cho bài tựa” (Trích lời tựu Lưu hương ký).
Đó là văn của Tốn Phong, đâu hẳn là lời Xuân Hương nói! Hơn nữa, tập lưu hương ký nhờ Tốn Phong viết lời tựa bà Xuân Hương làm từ 1804 đến tháng 3 – 1814. Chẳng lẽ 32 năm đầu đời bà chẳng làm được bài thơ nào?
Thứ hai: Bút pháp trong thơ nôm truyền tụng khác thơ nôm của Lưu Hương Ký. Thơ nôm truyền tụng thuần việt, thơ nôm Lưu Hương Ký có nhiều từ Hán Việt.
Trước đây, tôi có tham vọng viết bài “Bút pháp Hồ Xuân Hương trong thơ nôm truyền tụng và thơ nôm của tập Lưu Hương Ký là một”. Tiếc rằng, tôi có tâm nhưng chưa đủ tầm để viết được bài này. Muốn viết được bài ấy, trước hết phải nghiên cứu kỹ thơ nôm trong Lưu Hương Ký để hiểu rõ bút pháp của Hồ Xuân Hương. Sau đó phải lọc trong 139 bài thơ nôm truyền tụng mang danh Hồ Xuân Hương (do Đào Thái Tôn sưu tầm, các bài thơ nôm do các học giả khác cung cấp) để xác định tác phẩm nào đích thực là của Hồ Xuân Hương.
Từ đó mới so sánh được hai mảng thơ này.
Nhưng bây giờ điều đó không cần thiết nữa, bởi có nhiều luận cứ khác đồng nhất Xuân Hương làm thơ nôm và Hồ Xuân Hương.
Luận cứ hai: Tôi cảm nhận được thơ nôm trong Lưu Hương Ký và thơ nôm truyền tụng có nhiều điểm tương đồng (độ thâm sâu, cách dùng chữ, đùa tinh nghịch).
Trước hết nói về cái đùa tinh nghịch mục đích của thơ nôm truyền tụng là giải trí gây tiếng cười, công kích thói hư tật xấu, phải lấy cái hài hước, ỡm ờ, trêu chọc, đả kích làm chủ đạo.
Lưu Hướng Ký là tập thơ tình, phải lấy cái chân tình, nghiêm túc làm chủ đạo, không thể mang cái hài cái công kích vào đây được.
Thơ nôm truyền tụng dành cho người dân lao động không biết nghĩa từ Hán Việt nên thuần việt.
Thơ nôm Lưu Hương Ký viết cho đối tượng biết chữ Hán nên có nhiều chữ Hán Việt là chuyện thường.
Hồ Xuân Hương cũng tinh nghịch trong thơ nôm Lưu Hương Ký, song cái tinh nghịch nhẹ nhàng hơn:
“Xuân này nào phải cái xuân xưa
Có sớm ư? Thời lại có trưa”
(Trích cảm cựu Tống Tân Xuân Chi tác)
Cách dùng chữ trong thơ nôm Lưu Hương Ký cũng tuyệt. Chỉ đôi dòng mà bà tả được trang phục, dáng đi, cách sử dụng nước hoa của Tốn Phong:
“Sương xoa áo lục nhồi hương xạ
Gió lọt cành lê lướt mặt hồ”.
(Ngụ ý Tốn Phong ký nhị thủ)
Chỉ một câu mà bà diễn tả được chuyến đò dọc dài hơn trăm cây số:
“Khấp khểnh đường mây bước lại dừng”
(Trích Bạch đằng giang tặng biệt)
Thơ nôm Lưu Hương Ký rất uyên thâm, Xuân Hương dùng nhiều cách ví von, ẩn dụ trong một bài thơ.
Thu nguyệt Hữu Ức Mai Sơn Phủ Ký
(Đêm thu, nhớ Mai Sơn Phủ, gửi bài này)
Lá ngọc chiều thu giận hẳn du
Tuần trăng sẽ nhớ bữa đêm thu.
Bên am Nhất Trụ trông còn đấy,
Ngọn nước Tam Kỳ chảy lại đâu.
Son phấn trộm mừng duyên để lại,
Bèo mây thêm tủi phận về sau.
Trăm năm có biết duyên thừa nữa,
Cũng đỏ tay tơ cũng trắng đầu.
Tại sao bà Xuân Hương lại lấy “Lá ngọc” để mở bài thơ? Phải chăng bà yêu quý Mai Sơn Phủ như ngọc như vàng? Hay bà ví Mai Sơn Phủ là cây lá ngọc (Hoàng kim ngọc diệp) có sức sống mãnh liệt, biểu tượng của tình bạn.
Cây lá ngọc có ý nghĩa phong thủy độc đáo. Trong ngũ hành lá ngọc được xếp vào hành kim, hướng thích hợp đặt là hướng Tây và Tây Bắc. Đứng từ Cổ Nguyệt Đường nhìn về Phủ Tam Đới là hướng Tây Bắc.
Vậy, cây lá ngọc thỏa lòng Hồ Xuân Hương cả ý tứ lẫn phong thủy.
Mối tình Hồ Xuân Hương – Mai Sơn Phủ chỉ có trăng biết, trăng nhớ:
“Tuần trăng sẽ nhớ bữa đêm thu”.
Đã hơn hai thế kỷ trôi qua, các cháu bà vẫn phải hỏi nhau Mai Sơn Phủ là ai? Bà chỉ mách Mai Sơn Phủ quê ở Tam Kỳ – Quảng Nam.
“Bên am Nhất Trụ trông còn đấy,
Ngòn nước Tam Kỳ chảy lại đâu”.
Trong nhiều bài thơ, Xuân Hương dùng Sông Tô để chỉ mình là người Tràng An. Riêng bài này Xuân Hương dùng “am Nhất Trụ” (Chùa Một Cột) để chỉ mình ở Thăng Long. Hẳn bà còn có ý: Mai Son Phủ là người tình duy nhất của mình.
“Son phấn trộm mừng duyên để lại,
Bèo mây thêm tủi phận về sau”.
Hồ Xuân Hương mừng vì có mối tình với Mai Sơn Phủ, tủi cho phận long đong của mình, chưa biết đời mình sau sẽ ra sao.
“Trăm năm có biết duyên thừa nữa,
Cũng đỏ tay tơ cũng trắng đầu”.
Đây là câu hỏi: Bà hỏi Mai sơn Phủ về mối tình này có đỏ tay tơ (có con đỏ bế trên tay), sống với nhau đến bạc đầu hay không? Đây cũng là lời tỏ tình bà tự nguyện làm thiếp Mai Sơn Phủ.
Qua bài thơ này ta thấy, Hồ Xuân Hương vẫn chủ động, tự tin, mở lòng mình để đón bạn tình, đón tri âm, tri kỷ giống như “mời trầu” trong thơ nôm truyền tụng.
Ngoài hai luận cứ trên, còn ba luận cứ độc lập để khẳng định Hồ Xuân Hương đích thực là “Bà chú thơ nôm”.
Luận cứ 3: Trong bài tặng Chí Hiên kỳ 1 (Trong Lưu Hương Ký) Hồ Xuân Hương tự nhận là chúa xuân:
“Chớ để chúa xuân lòng mỏi mệt”.
Danh hiệu “Bà chúa thơ nôm” được dân lao động tôn vinh từ thời đó.
Luận cứ 4: Năm 1950 khi chưa phát hiện ra tập Lưu Hương Ký (Lưu Hương Ký phát hiện 1964). Cố Giáo sư Lê Tâm đã có cuốn sách Hồ Xuân Hương “Bà chúa thơ nôm”, hẳn giáo sư có cơ sở để viết tiêu đề sách như vậy.
Hơn nữa hai câu đối:
“Người cổ lại còn đeo khói nguyệt
Buồng xuân chi để lại mùi hương”
Ghép hai chữ hán Cổ và Nguyệt lại thì thành chữ Hồ. Trong hai câu đầy đủ họ và tên Hồ Xuân Hương.
Luận cứ 5: Thơ Tốn Phong “Tao đàn xuất hiện vị thơ thần”. Thời đó trên tao đàn Hồ Xuân Hương chỉ nổi tiếng về thơ nôm truyền tụng. Nếu Lưu Hương Ký xuất hiện trên tao đàn thì không cớ gì mãi đến 1964 chúng ta mới phát hiện ra.
Thơ nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương đã bị dân gian hóa. Để sàng lọc được thơ của bà phải biết rõ phong cách và bút pháp thơ Hồ Xuân Hương.
Trước hết, Hồ Xuân Hương chỉ làm thơ đường luật: Thất ngôn tứ tuyệt hoặc thất ngôn bát cú. Thơ không tục tằn, không thô lỗ, thơ phải có chủ ý rõ ràng. Khi đề cập đến cái tục, phong cách “thanh thanh, tục tục”.
Lựa chọn thơ nôm Hồ Xuân Hương là chuyện khó. Ngoài văn phong phải biết rõ lịch sử, phong tục tập quán, nghi lễ.
Bài “Khóc ông Phủ Vĩnh Tường” GS. Hoàng Xuân Hãn loại bỏ là bất hợp lý. Giáo sư cho rằng Ông Hiển chết năm 1819 đến năm 1822 mới có tên Phủ Vĩnh Tường. Ông Hiển chết mùa đông 1819 khi đoạn tang (27 tháng) đã sang năm 1822 rồi.
Hiện nay, nhiều người cho rằng bài “Đánh đu” của Hồ Xuân Hương chỉ là biến thể bài thơ “Đánh đu” của Lê Thánh Thông. Tôi mang hai bài thơ ra để cân, đong, đo, đếm.
Cây đánh đu
(Lê Thánh Tông)
Bốn cột lang, nha cắm để chồng,
Ả thì đánh cái, ả còn ngong.
Tế hậu thổ, khom khom cật,
Vái hoàng thiên, ngửa ngửa lòng.
Tám bức quần hồng bay phới phới,
Hai hàng chân ngọc đứng song song.
Chơi xuân hết tấc xuân dường ấy,
Nhổ cột đem về để lỗ không.

Đánh đu
(Hồ Xuân Hương)
“Bốn cột khen ai khéo khéo trồng
Người thì lên đánh kẻ ngồi trông
Trai du gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phất phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song
Chơi xuân có biết xuân chăng tá?
Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không.”
Hai bài này cùng làm thể thơ đường luật : thất ngôn bát cú. Cùng tả trò đánh đu.
Thể thơ thất ngôn bát cú có bố cục bốn phần dập khuân : Đề, thực, luận, kết (Mỗi phần hai câu). Trong mỗi phần phải tuân theo quy tắc nghiêm ngặt (bằng, chắc, đối, vần…).
Trò đánh đu : cây đu thường làm bằng bốn chiếc cột (có khi sáu chiếc), chơi đánh đu thường là cặp đôi, khi đu người khỏm kẻ ngửa.
Bởi vậy nhiều người dễ ngộ nhận đánh đu của Hồ Xuân Hương chỉ là phiên bản cây đánh đu của Lê Thánh Tông.
Đọc kỹ hai bài thơ trên ta thấy văn phong của Lê Thánh Tông và văn phong Hồ Xuân Hương khác hẳn nhau.
Cây đánh đu của Lê Thánh Tông tả trò đánh đu của đám thanh niên làng : Cột (dừa, cau), “ả đánh”, “ả ngong” (ngong là chờ đến lượt mình chơi).
Đánh đu của Hồ Xuân Hương tả trò đánh đu trong một lễ hội : “người đánh”, “kẻ trông” (Trông là xem đánh đu).
Cây đánh đu của Lê Thánh Tông gò bó : Người “tế”, kẻ “vái”. Đánh đu của Hồ Xuân Hương tự do thoải mái : “Trai du gối hạc, gái uốn lưng ong”.
Cây đánh đu của Lê Thánh Tông chỉ là trò chơi bình thường (hai cô gái đánh đu). Còn đánh đu của Hồ Xuân Hương là trò đu tiên (Đánh đu ngoài chức năng giải trí còn để trai gái giao lưu tìm hiểu nên đu cặp 1 nam 1 nữ gọi là đu tiên).
Hai câu thực của hai bài thơ khác hẳn nhau : Cây đánh đu dùng mỗi câu sáu chữ, đánh đu vẫn tuân thủ thơ đường luật.
Hai câu kết của hai bài thơ ý nghĩa khác hẳn nhau : Thơ Lê Thánh Tông chỉ là việc thu dọn sau trò đánh đu. Thơ Hồ Xuân Hương nói lập lờ nên còn có hàm ý khác.
Trong đánh đu của Hồ Xuân Hương, đôi trai gái đánh đu thoải mái, rất tự nhiên, vút bay tạo ra bức tranh xuân sinh động. Chỉ cần vài chỗ nói lấp lửng (bốn cọc, cọc nhổ đi rồi) làm cho người đọc liên tưởng đến chuyện khác, tạo ra hình tượng kép của bài thơ. Đó là văn phong thanh thanh tục tục của Hồ Xuân Hương.
Cây đánh đu của Lê Thánh Tông chỉ độc tả trò đánh đu, rất nghiêm trang.
Hai bài thơ này khác nhau về văn phong, về nghệ thuật.
Vậy bài đánh đu là sáng tác của Hồ Xuân hương, mang phong cách riêng của Hồ Xuân Hương, không lẫn vào đâu được.
Bài thơ : Vịnh Thăng Long hoài cổ
Ngân ngất tầng mây một dải cờ
Kinh thành ngày trước tỉnh bây giờ
Tượng đồng Trấn Vũ hương còn ngát
Bia đá Khuê Văn chữ chửa mờ
Bảo Tháp lưa thưa chòm cỏ mới
Hồ sông lai láng bóng trăng xưa
Nào ai cố lão ra đây hỏi
Chốn cũ phồn hoa đã phải chưa
(Nguồn Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm HXH, NXB Văn Học 2008)
Bài này cần loại bỏ bởi Thăng Long thành tỉnh năm 1831, Hồ Xuân Hương đã mất từ lâu rồi.
Qua sông phụ sóng
Chú lái kia ơi biết chú rồi
Qua sông rồi lại đấm ngay bòi
Chèo ghe vừa khỏi dòng nước ngược
Đấm C. ngay vào ngấn nước xuôi
Mới biết lên bờ đà vỗ đít
Nào khi giữa khúc phải co vòi
Chuyến đò nên nghĩa sao không nhớ
Sang nữa hay là một chuyến thôi.
Bài này phải loại bỏ bởi văn phong thô tục, không phải văn phong “thanh thanh, tục tục” của Hồ Xuân Hương.

Sư bị ong châm
Nào nón tu lờ, nào mũ thâm
Đi đâu chẳng đội bị ong châm
Đầu sư há phải gì…bà cốt
Bá ngọ con ong bé cái châm.
Hồ Xuân Hương cũng viết thơ đả phá, châm chọc sư tu không ra tu nhưng thâm thúy. Bài thơ này nông cạn, không có chủ đích, vô hàm ý nên không thể là thơ Hồ Xuân Hương, bài thơ này phải loại bỏ.
Tôi mong các nhà nghiên cứu Hồ Xuân Hương sẽ tuyển chọn được những bài thơ nôm hợp lý mang danh Hồ Xuân Hương.
Tập Lưu Hương Ký mà nhiều sách đã xuất bản, ta nên sắp xếp lại:
– Lưu Hương Ký gốc (Lưu Hương Ký tập 1): Tập thơ Xuân Hương nhờ Tốn Phong viết lời tựa. Trong số này có bài nào của Mai Sơn Phủ không?
– Hương Đình Cổ Nguyệt (Lưu Hương Ký tập 2). Những bài thơ Hồ Xuân Hương viết sau tháng 3 năm 1814.
Hồ Xuân Hương, một hiện tượng độc nhất vô nhị trên văn đàn Việt Nam. Đã có rất nhiều danh sĩ thời xưa, GS.TS, PGS.TS ngày nay, nghiên cứu về cuộc đời và thơ văn của bà.
Tôi không phải nhà văn, nhà phê bình văn học. Tôi chỉ là người dân Việt Nam bình thường, có lòng yêu nước, hiểu cương thường – đạo nghĩa.
Tôi viết để bộc bạch nỗi lòng, với khát vọng trả lại công bằng cho nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Đề tài Hồ Xuân Hương còn nhiều việc phải làm.
Tiếc rằng, thế hệ “Hưu trí” của tôi gần như đã lỡ hẹn với Hồ Xuân Hương. Tôi mong rằng thế hệ trẻ Việt Nam được đào tạo bài bản, có khác vọng, có nghị lực, có trí tuệ sẽ hoàn thành thật tốt đề tài này.

Tuấn Trường Sơn