LỊCH SỬ NGUỒN GỐC HỌ HỒ LÀNG BỒ BẢN, XÃ HÒA PHONG, HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

175
1. Khởi tổ : Năm 1476 – Bính Dần, niên hiệu Hồng Đức thứ 7 ( Triều Lê Thánh Tông ). Ngài Thủy tổ Hồ Quý Công Tiền Hiền làng Bồ Bản cùng với các ngài tiền hiền 3 họ khác ( Trần, Trương, Nguyễn ) vâng Chỉ vua Lê vào đất Chiêm Động, Cổ Lũy khai canh, lập ấp xây đựng hình thành Làng Bồ Bản ngày nay. Đất Chiêm Động – Cổ Lũy sau khi vua nhà Hồ (Hồ Hán Thương) chiếm được khoảng năm 1403, đã được đổi thành 4 châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa là vùng đất từ phía nam Thuận Hóa tới Mộ Đức, Quảng Ngãi ngày nay, tới triều Lê Thánh Tông (1460-1497) còn là vùng đất hoang hóa, nên đợt địch cư từ phía Bắc vào lần này gần như lần đầu.
Ngài Thủy tổ Hồ Quý Công Tiền Hiền Làng Bồ Bản sinh vào khoảng năm 1420 đến 1456 ( khoảng đời thứ 17 kể từ Nguyên tổ). Ông có thể là cháu 4+ 5 đời của Thủy tổ Hồ Hồng, cũng có thể là con cháu một ông thuộc 10 đời thất truyền của họ Hồ ( 2 giả thiết này đều có thể vì Thủy tổ Hồ Hồng vào bình Chiêm vùng Tân Bình – Thuận Hóa cuối thế kỷ thứ 14, còn Bào Đột là vùng đất Nguyên tổ nên con cháu ở đấy trước đây thường là thuộc 10 đời thất truyền). Nguyên quán của ngài ở làng Bào Đột, Xã Ngọc Sơn, Huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An, đất trại xưa của Nguyên Tổ trạng nguyên Hồ Hưng Dật.( Theo Phả hệ Họ Hồ Việt Nam tập IV-2001- Hồ Bá Hiền Trưởng Ban sử họ Hồ Việt Nam).
Ngày tu tảo phần mộ ngài: Tế Xuân 15 tháng 02 âm lịch
Ngày giỗ Tổ Tiền Hiền    :  Tế Thu 15 tháng 8 âm lịch
Mộ ngài  nằm song song với Đình Làng Bồ Bản phía bên phải Đình, phía bên trái song song với Đình là nhà thờ Tộc Hồ Khai Tiên.  Đình làng Bồ Bản, đồng dân phụng thờ các vị Tiền Hiền của làng, tên và lịch sử của ngài có ghi trong Bộ Đinh tịch ( viết năm Quang Trung thứ 5 -1792 và Bộ Gia Long thứ 14 – 1815). Năm Gia Long  thứ 3- năm Ất Sữu – 1805 đồng dân làng có lập bản xin phong sắc có ghi: “ Đồng dân chư tộc phái tường khai minh bạch tiên bằng quả bẩm phong tặng sắc văn nhứt khoản đẳng nhơn dân xã sát chi nguyên tiền : “…Trần, Hồ nhị phái Tôn tử Tiền Hiền Hữu nhơn Tương thừa, Trương Nguyễn nhị phái nhựt hạ vô nhơn, dân xã hướng lai phụng tự”. Đình đã được công nhận là di tích “Lịch sử văn hóa” về điêu khắc nghệ thuật cổ (QĐ số 01/BVHTT ngày 04 tháng 01 năm 1999 của Bộ văn hóa – Thông tin)
2. Tổ đời thứ 1 : Ngài Thủy tổ Hồ Quý Công Tiền Hiền làng Bồ Bản sanh hạ đời thứ nhất là Ngài Hồ Quý Công – tự Hữu Tường –  Mộ ngài văn bia tu tạo năm Ất Mùi – 1955 có ghi: “ Bồ Giang nhất thế thủy tổ Hồ Quý Công – tự Hữu Tường”.
Ngày tu tảo phần mộ : Mùng 2 tháng chạp âm lịch
Ngày Giỗ Tổ  Tộc Hồ : Tế Xuân 17 tháng giêng và tế Thu mùng 9 tháng 6 âm lịch hằng năm.
Từ đời 02 đến đời 08 (7 đời) hiện đã bị thất truyền do gia phả bị rách phần đầu, từ năm Đinh Dậu – 1957, dòng họ tu chỉnh lại gia phả có ghi: “ Thiết niệm = Thầm nghĩ: Người sanh có tổ, vật gốc ở trời, đó là lẽ thường của trời đất vậy. Song cây lớn chia thành nhiều nhánh, sông dài chia thành nhiều dòng. Sanh ra một đời thì khác đi một đời, cho nên phải có kinh điển thì luân tự trong đời tuy xa có thể tham cứu liệt kê được.
Ông tổ ta sáng lập cơ đồ ở làng Bồ Bản bồi đắp mạch nhân hậu mà sinh ra kẻ hiền minh. Trãi đời nước sâu thẳm và lâu dài. Nhưng các đời trên ông tổ Hồ Văn Trinh về trước Tộc phổ bị thất lạc, sự cố khó ràng, chỉ liệt kê, không biết thế hệ. Từ đời ông Tổ Hồ Văn Trinh về sau vẫn còn, sự việc còn khá rõ.”
3. Đến đời thứ 11: con cháu Ngài Thủy Tổ – Hồ Quý Công Tiền Hiền Làng Bồ Bản phát triển đông đúc, hình thành 3 phái.
* Phái I :  Ông tổ là ngài Hồ Văn Nhiêu ( Phạp,Vô tự)
* Phái II : Ông tổ là Ngài Hồ Bình Cang, Sắc phong Xã sử Nhậm, sau làm Xã Chính. (nay là phái I )
* Phái III: Ông tổ là Ngài Hồ Thanh Tùng, Sắc phong Xã Chính Nghị. (nay là phái II)Ngài Hồ Bình Cang sinh năm 1756 – Bính Tý – Niên  Triều Lê Cảnh Hưng, năm 1805 – Ất Sữu Gia Long năm thứ 3, được 49 tuổi. Ngài là người tổ chức xây dựng ngôi Từ Đường Hồ Tộc – Đệ nhất phái lần thứ nhất vào năm 1800 – Canh Thân – Niên hiệu Cảnh Thịnh, làm bằng tranh tre.
Ngài tổ chức đắp đập Bàu Thị, đào Mương Nhánh lấy nước tưới ruộng, dạy cho dân cày cấy. Ngài khai khẩn cho làng công điền thỗ được 85 mẫu /260 mẫu tổng diện tích đât của làng và xây dựng  Đình Làng lần đầu tiên, bằng tranh tre vào năm: 1803 – Gia Long thứ 2.
4. Tính đến năm 2014 – Giáp Ngọ Tộc Hồ  Khai Tiên  làng Bồ Bản được: 538 năm, phát triển hình thành 3 phái, hiện còn 2 phái sinh hạ được 18 đời con cháu.
5. Hồ Tộc Đệ nhất Phái hình thành được 3 Chi, hiện còn 2 chi.
* Chi I : Ông tổ Hồ Văn Thành (phạp, vô tự)
* Chi II: Ông Tổ Hồ Văn Quỳnh – sinh năm 1822- Canh Thìn.
+ Ngày giỗ: 13 tháng 3 âm lịch.(nay là chi I)
* Chi III: Ông Tổ Hồ Văn Phong – sinh năm 1824 – Nhâm Ngọ
+ Ngày giỗ: 22 tháng 10 âm lịch.(nay là chi II)

Tác giả bài viết: Hồ Sơn
Nguồn tin: Thành viên BLL Họ Hồ Đà Nẵng