Người chồng và người tình thêu dệt của HXH

4250

BÀI 2
GIẢI MÃ BÀI THƠ “KHÓC ÔNG PHỦ VĨNH TƯỜNG”
CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG

Năm 1804, Từ biệt tổng Cóc bà Xuân hương về Thăng Long dựng ngội nhà tranh để buôn bán mưu sinh. Đường Cổ Ngư là huyết mạch giao thông sát chùa Trấn Quốc, đền Trấn Quốc là điểm đến hấp dẫn của du khách thập phương.
Bà Xuân Hương dựng ngội nhà bên đường Cổ Ngư, bên kia đường là đền Trấn Quốc. Ngôi nhà ngoảnh mặt ra Hồ Tây. Quanh nhà bà trồng toàn mơ, đầu cổng bà trồng cây Bàng lấy bóng. Bà đặt tên là Cổ Nguyệt Đường (nhà cô gái họ Hồ bên Đường cổ Ngư)
Bà bán: giấy, bút, mực, sách, ô, quạt. Nhiều khi hàng ế ẩm bà phải đi buôn chuyến cùng bạn về vùng Sơn Nam Hạ, Sơn Nam Thượng ( Hà Nam, Phủ Lý, Nam Định, Thái Bình ngày nay)
Bà bán hàng gần đền Trấn Quốc nên nhiều tài tử văn nhân đi vãn cảnh đền chùa quen biết bà. Nhưng, họ chỉ thoảng qua thoáng lại nhà bà (Tốn Phong gặp bà lần sau cách lần đầu 7 năm, Nguyễn Du gặp bà 1 lần cách tháng hai 1813, ba năm)
Mùa thu 1813, do duyên nợ ba sinh mà ông Trần Phúc Hiển vào thăm CNĐ. Ông Hiển là người đằng trong, đã có vợ ở quê nhà, năm 1808 từ Huế lên nhậm chức Tri phủ Tam Đái (địa danh này đổi thành phủ Vĩnh Tường năm 1822)
Do mẫn cán, trung thực, liêm khiết nên tháng Chạp năm 1813 ông được thăng chức Tham hiệp trấn Yên Quảng (Quảng Yên, Quảng Ninh ngày nay). Bà cũng nhiều lần lên phủ Tam Đái thăm ông:
“Con bóng đi về chốc bấy nay
Chữ duyên nào đã chắc trong tay
Nghĩ cùng thế sự lòng như đốt
Trông suốt nhân tình dạ muốn say
Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn
Một đời riêng mấy kiếp chua cay
Nỗi mình nỗi bạn dường bao nả
Dám hỏi han đâu những cớ này”
(Tự thán, viết cuối năm 1813)
Do thông cảm về hoàn cảnh, cảm phục nhau về nhân cách, cảm nhận sự đồng điệu trong cuộc sống nên ông bà thương yêu nhau. Ông hứa nhậm chức xong sẽ cưới bà.
Trên đường về Yên Quảng nhậm chức, thuyền ông xuôi sông Hồng, ghé bờ đón bà Xuân Hương đi tiễn. Thuyền qua sông Đuống, sông Kinh Thầy, qua Lục Đầu Giang đến cửa sông Bạch Đằng thì chia tay. Đây là cuộc đưa tiễn bạn tình, bà đã nhắc khéo ông sớm thực hiện lời hứa :
“ Khấp khểnh đường mây bước lại dừng
Là duyên là nợ phải hay chăng?
Vin hóa khéo lẻo lay cành gấm,
Vục nước xem mà động bóng giăng.
Lòng nọ chớ rằng mây nhạt nhạt
Lời kia này đã núi giăng giăng
Với nhau tình nghĩa sao là trọn
Chớ thói lưng vơi cỡ nước Đằng
(Bạch Đằng Giang tặng biệt)
Thế rồi ông bà cùng nhau đón xuân Giáp Tuất 1814. Sang Xuân bà đã đi Yên Quảng mấy đợt thăm ông:
“ Lẩn thẩn đi về mấy độ nay
Vì đâu đeo đẳng với nơi vầy
Ấm trà tiêu khát còn nghe giọng
Chén rượu mừng xuân dạ thấy say
Điểm lữ trông chừng mây đạm nhạt
Dòng thu xem cỡ nước vơi đầy
Thương ai hẳn lại thương lòng lắm
Này nọ này duyên những thế nay
( Tự thán, viết tháng giêng năm 1814 )
Cuối tháng giêng 1814 ông Hiển cưới bà Xuân Hương làm thiếp. Đây là thời hạnh phúc nhất của đời bà. Lưu Hương Ký là tập thơ bà Xuân Hương nhờ Tốn Phong viết lời tựa, đa số các bài thơ bà viết từ mùa thu 1813 đến tháng 2 năm 1814. Trong Lưu Hương Ký nói nhiều về mối tình say đắm của bà với Mai Sơn Phủ. Ông Mai Sơn Phủ là ai? Mà hậu thế tốn nhiều giấy mực luận bàn. Khi nhờ Tốn Phong viết lời tựa, bà Xuân Hương đang lâng lâng hạnh phúc với chồng mới cưới Trần Phúc Hiển. Bà dại gì khoe với ông Hiển và mọi người mối tình với người khác. Hơn nữa, giữa Mai Sơn Phủ và Trần Phúc Hiển có nhiều điểm tương đồng. Vậy, Mai Sơn Phủ chỉ có thể là ông Trần Phúc Hiển.
Lấy nhau rồi ông bà vẫn mỗi người một ngả, bà về CNĐ chăm mẹ già. Những bữa ông Hiển về Thăng Long thăm bà thường mời bạn thân Trần Quang Tĩnh đến chơi, uống rượu và sướng họa thơ cùng bà. Bữa thì bà đi Yên Quảng thăm ông. Mỗi lần chia tay thật bịn dịn:
“Người về người ở khéo buồn sao
Tức tối mình thay biết lẽ nào
Tơ tóc lời kia còn nữa hết
Cá vàng lòng nọ xiết là bao
Nồi cơm riêng giận ngày giời ngắn
Mỏi mắt chờ xem bóng nguyệt cao
Sớm biết lẽ giời ly có hợp
Thì mười năm trước bận chi nao”
( Ghi lại lúc chia tay tại An Quảng An Hưng)
Có bà Lang chồng chết nhờ bà viết hộ bài khóc chồng, dịp ấy lại có ông thầy đồ chết trẻ. Họ đã nhờ bà dạy thay, học trò theo học bà đông dần.
Cũng năm 1814, mẹ mất, bà vừa cư tang vừa dạy học. Cuối năm 1816 bà ra Yên Quảng sống với chồng.
Vùng Yên Quảng ngày ấy là biên ải, đất chua mặn, hoang hóa nhiều, dân cư thưa thớt, nghèo nàn và lạc hậu. Ông Hiển tham mưu bắt dân khai hoang phục hóa để lấy đất cày, để dân bám đất bám làng giữ yên bờ cõi.
Mùa đông 1818 ông Hiển bị bắt giam với cáo buộc bắt dân hối lộ. Mùa thu 1819 ông bị xử tử.
Chao ôi! Vùng đất Tam Đái màu mỡ, dân giỏi buôn bán ngược xuôi nên giàu có. Tại đây ông là quan tri phủ có toàn quyền mà vẫn nổi tiếng là vị quan thanh liêm được dân ca tụng, được triều đình ghi nhận và thăng chức. Vùng Yên Quảng nghèo xác nghèo xơ mà ông chỉ là quan tham mưu và cố vấn thì làm sao tham nhũng được.
Khi chồng bị bắt, bà xuân Hương đi khắp nơi kêu oan cho chồng. Bà kêu làm sao được!. Bà chỉ biết minh oan cho chồng bằng bài thơ Bánh trôi nước
“ Thân em thì trắng phận em tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm long son”
Bà đứt từng khúc ruột khóc chồng bằng bài thơ thất ngôn vô hạn cú:
“ Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi!
Cái nợ ba sinh đã trả rồi.
Chôn chặt văn chương ba thước đất,
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời.
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất?
Miệng túi càn khôn khép lại rồi.
Hai bảy tháng trời đà mấy chốc,
Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi!”
(Khóc ông Phủ Vĩnh Tường)
Bà Xuân Hương viết bài khóc ông phủ Vĩnh Tường năm 1822 sau khi mãn tang chồng (bởi lúc này mới có tên Phủ Vĩnh Tường)? Hay sau năm bảy (57) tháng chung sống với chồng? Đây cũng là bài thơ cuối cùng bà để lại cho đời sau.
Tại sao bà Xuân Hương không khóc ông Tứ phẩm Tham Hiệp Trấn Yên Quảng, mà lại khóc ông Lục phẩm tri phủ Tam Đái thời xa lắc? Phải chăng bà muốn gửi thông điệp cho người đương thời và hậu thế rằng ông Trần Phúc Hiển là quan thanh liêm chính trực.
Hơn nữa ông Hiển là ẵm quan, không phải dân khoa bảng nên chẳng sành văn chương chữ nghĩa. Vậy:
“Chôn chặt văn chương ba thước đất”
Ta chỉ có thể hiểu thời gian ông Hiển bị bắt bà HXH đã không động đến văn chương thơ phú mà đi khắp nơi kêu oan cho chồng hoặc bà đã chôn văn thơ của mình theo chồng.
“Tung hê hồ thỉ bốn phương trời”
Đó là chí hướng làm trai của ông Hiển tung hê ở bốn phương trời mà không thu hẹp trong phạm vi gia đình và vợ con
Tính cách của bà Xuân Hương dễ chôn thơ lắm bởi bà đã từng cắt tóc, cắt máu ăn thề sau khi ông Hiển cưới bà.
Bà chôn văn chương ở đâu? Ở mộ ông chồng ba trong một của bà (Mai Sơn Phủ, Tham Hiệp Trấn Yên Quảng, Ông Phủ Vĩnh Tường)
Hay bà chôn dưới nền nhà CNĐ? Đây là kho báu chứa các bài thơ từ giữa xuân 1814 đến 1822 mà thế hệ chúng ta và hậu thế muốn tìm.
Sau khi mãn tang chồng, bà hóa tại CNĐ, dân làng chôn bà tại nghĩa địa ven hồ gần đấy.
Tuấn Trường Sơn

BÀI 3
Người chồng và người tình thêu dệt của HXH
Thơ truyền miệng của HXH có 2 bài thơ khóc chồng: khóc tổng Cóc, khóc ông phủ Vĩnh Tường.
Còn bài thơ nữa “ Bà lang khóc chồng” họ suy diễn ông lang cũng là chồng bà. Thế là bà có ông chồng là thày lang phố Tây do bị mẹ ép gả lúc còn trẻ. Tại sao có chuyện ấy ta đi tìm hiểu bắt đầu từ anh đồ Chiêu Hổ, người đã nhiều lần xướng họa với HXH:
Trách Chiêu Hổ I
Anh đồ tỉnh, anh dồ say,
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày?
Này này chị bảo cho mà biết,
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay.
Chiêu Hổ họa lại
Này ông tỉnh! Này ông say!
Này ông nghẹo nguyệt giữa ban ngày.
Hang hùm ví bẵng không ai mó,
Sao có hùm con bỗng trốc tay?
Trách Chiêu Hổ II
Sao nói rằng năm lại có ba?
Trách người quân tử hẹn sai ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,
Nhớ hái cho xin nắm lá đa.
Chiêu Hổ họa lại
Rằng gián thì năm, quý có ba
Bởi người thục nữ tính không ra.
Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt,
Cho cả cành đa lẫn củ đa.

Trách Chiêu Hổ III
Những bấy lâu nay luống nhắn nhe,
Nhắn nhe toan những sự gùn ghè.
Gùn ghè nhưng vẫn còn chưa dám,
Chưa dám cho nên phải rụt rè.
Chiêu Hổ họa lại
Hỡi hỡi cô bay tố hão nhe,
Hão nhe không được, gậy ông ghè.
Ông ghè không được, ông ghè mãi
Ghè mãi rồi lâu cũng phải rè.
Ta thấy người xướng đã giỏi, người họa cũng tài!.
Thời Bà Xuân Hương sống có Phạm Đình Hổ hơn bà 4 tuổi, sành văn chương, chữ nghĩa lại ở gần nhà bà. Người ta đã đồng nhất CH với PĐH. Người ta tìm hình bóng Xuân Hương trong thơ PĐH.
Đây rồi! 4 bài thơ chữ Hán ông PĐH viết về một bóng hồng.
Bài 1 : Sở hữu cảm
“ Trường An cô gái nhỏ,
Đôi tay vấn tóc thề,
Khuê phòng không biết khổ
Quyét hoa rụng bay về”
(khổ thơ đầu, Nhất Uyên dịch)
Cô gái trong bài thơ là con nhà giàu, còn XH là con ông đồ nghèo làm gì có biệt phủ CNĐ. Nhà Cổ Nguyệt chỉ là ngôi nhà tranh mà HXH dựng để buôn bán mưu sinh sau khi từ biệt tổng Cóc (1804)
Đặc biệt bài thứ tư:
Hoài Cổ
Năm xưa hoa đào nở,
Em tôi học cài trâm.
Năm nay hoa đào nở,
Mẹ gả xóm Tây gần.
Năm xưa hoa đào nở,
Gió xuân sao lạnh lùng.
Em nhìn hoa mà khóc,
Sầu vương nét mi cong.
Năm nay hoa đào nở,
Cỏ xuân mượt trời mơ.
Bên hoa em cười nụ
Ngâm thành tự đề thơ
(Phạm Trọng Chánh, dịch)
Cô gái trong thơ PĐH biết làm thơ, yêu hoa mai, nhỏ tuổi hơn ông giống như HXH. Mà ở Thăng Long thời đó số cô gái như thế chỉ đếm được trên đầu ngón tay.
Bài thơ này coi HXH là nguyên mẫu nên HXH bị mang tiếng mẹ ép gả cho thầy lang phố Tây.
Nhiều người lại luận bà XH bị mẹ ép gả cho tổng Cóc lúc 15 – 16 tuổi, nhà tổng Cóc ở gần ngay phía tây nhà bà.
Nếu bà bị ép gả sau năm tập cài trâm, khi chồng chết thì trở thành gái góa làm sao còn ước mơ lấy được chồng biết văn chương, chữ nghĩa, khi đã quá lứa, lỡ thì:
“Tài tử văn nhân đâu đó tá?
Thân này đâu đã chịu già tom”
(Tự tình)
Thật ra, Chiêu Hổ chỉ gá văn chương với HXH mà thôi. Chiêu Hổ là ai? Chẳng ai biết được!. Chỉ biết Chiêu Hổ không phải là học trò cụ HPD, bởi phàm là người học chữ thánh hiền thì đạo lý đầu tiên phải tuân thủ đó là “ con thầy, vợ bạn” không được sàm sỡ.
Anh chàng Chiêu Hổ cũng không thể là PĐH được bởi 5 lý do sau:
Thứ nhất: Chiêu Hổ là người giỏi thơ Nôm, còn PĐH ghét thơ Nôm và không để lại bài thơ Nôm nào.
Thứ hai: Chiêu Hổ là người háo sắc, trăng hoa, cợt nhả còn PĐH là người
“ Trầm lặng, mực thước, khắc khổ, nhạt nhẽo, ghét thanh sắc”
Thứ ba: Chiêu Hổ là công tử con nhà giàu, còn PĐH là người rất nghèo, làm gì có tiền cho XH vay 3 đồng bạc
Thứ tư: người có mác chữ Chiêu, được học trong Văn Chiêu Quán phải là con tiến sỹ còn PĐH chỉ là con ông Cử.
Thứ năm: HXH chỉ biết mà không quen PĐH, bà giao du rộng nhưng không giao thiệp với PĐH. Trong thơ văn của PĐH không có bài nào viết về HXH. Vậy, PĐH cũng không thể là học trò của cụ HPD được.
Cho nên, bóng hồng trong thơ PĐH càng không phải là HXH.
Cũng từ 4 bài thơ ấy của PĐH người ta cảm nhận HXH tập trang điểm làm duyên vì mối tình 3 năm với đại thi hào Nguyễn Du.
Ta tìm hiểu tình cảm của HXH với Nguyễn Du, bắt đầu từ bài:
Nhớ người cũ, viết gửi
Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu
(Tiên Điền – Nghi Xuân )
Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết còn mảy chút sương siu mấy,
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.
Bài thơ này bà viết tháng 2 năm 1813, khi nghe tin Nguyễn Du được phong chức chánh học sỹ.
Hai câu đầu chỉ nói lên HXH đã quen biết và nhớ Nguyễn Du, muốn gửi lời chúc mừng Nguyễn Du.
Câu 3: “Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,”
Chữ “ chốc” chỉ thời gian tương đối ngắn, thì quá khứ tiếp diễn hoặc tương lai gần. Bà đã dùng cho ba năm vẹn, bà cảm thấy thời gian trôi đi nhanh quá. Chữ “ chốc” cũng là mốc đánh dấu thời gian từ lúc bà viết bài thơ này trở về trước, khi gặp Nguyễn Du lần đầu vừa đủ 3 năm. Như vậy, bà và Nguyễn Du quen nhau vào mùa xuân 1810 (năm sau ND nhậm chức ở Quảng Bình).
Câu 4: “Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.”
HXH mong gặp lại Nguyễn Du, nhưng chưa từng gặp lại.
Câu 5: “Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,”
HXH chúc mừng Nguyễn Du thăng quan tiến chức.
Đoạn cuối: “Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết còn mảy chút sương siu mấy,
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.”
Đây là lời tự tình, lời tâm tình của XH với Nguyễn Du. Cũng là “ bật đèn xanh” cho Nguyễn Du, nếu chàng muốn lập thiếp.
Đọc bài thơ này, tôi lại liên tưởng đến bài hát còn duyên dân ca quan họ Bắc Ninh. Tâm trạng HXH cũng giống tâm trạng cô gái kia. Hai người cùng “bật đèn xanh” nhưng HXH chỉ dừng lại ở: “đây em vẫn ở không, đây em chửa có chồng, đây tôi chửa có ai”.
Tiếc rằng, “người ngoan” của HXH đã lấy vợ sớm (lúc 18 tuổi), không ham tửu sắc, đã toàn tâm, toàn sức dồn vào truyện Kiều và tham vọng chốn quan trường.
Bài thơ này bà viết khi chưa gặp Mai Sơn Phủ. Bà yêu Mai Sơn Phủ có nửa năm mà có cả tập Lưu Hương Ký trữ tình. Nếu giữa bà và Nguyễn Du có mối tình 3 năm thì tập thơ của bà viết về Nguyễn Du chắc dày lắm, đâu chỉ có một bài.
Bà HXH rất đa tình nhưng không phong tình. Bà khao khát có tấm chồng và những đứa con. Bà không chấp nhận hôn nhân do mai mối mà tự mình đi tìm tình yêu. Bà chỉ có 2 mối tình, 2 mối tình này bà đều chủ động, cả 2 đều kết thành vợ chồng.
Mối tình đầu với ông tổng Cóc.
Mối tình thứ hai (cũng là mối tình cuối) với ông Phủ Vĩnh Tường (cũng là Mai Sơn phủ, cũng là Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển).
Tiếc rằng, cả hai đời chồng, ông trời chẳng cho bà được mụn con nào.
Dù không phải là người tình của ND, không giao thiệp với PĐH, bà XH vẫn tự tỏa sáng bởi bà là một thiên tài, một phụ nữ Việt Nam phẩm hạnh.

Tuấn Trường Sơn