Chuyện ông Hồ Lòi

738
Ông Hồ Lòi không nhớ mình bao nhiêu tuổi. Cuộc đời ông là một câu chuyện đau lòng, mà ông- người kể ra nó, cũng chỉ dám oán trách bản thân chứ không thể đổ lỗi cho số phận. Những giọt nước mắt ứa trên hai gò má nhăn nheo đã nói lên điều ấy.
Quanh co một kiếp người

54 năm trước, sau Hiệp định Genèva, chú bé Hồ Lòi khoảng 12 tuổi, con một người cán bộ ở xã Hướng Lập, cùng với các bạn mình được gửi ra Bắc để học tập, rèn luyện với mục đích để sau này trở thành những người sẽ xây dựng quê hương khi hoà bình lập lại. 

Sau những năm học ở Trường con em cán bộ miền Nam trên đất Ninh Bình, Hồ Lòi được cử lên Thái Nguyên học trường Nông lâm Việt Bắc. Ra trường, Hồ Lòi được phân công công tác tại Lâm trường Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, một lâm trường cấp Bộ.

Năm 1969, chàng cán bộ miền Nam người Vân Kiều làm công tác điều tra quy hoạch rừng đã bén duyên cùng cô gái Cao Lan là Ninh Thị Hồ ở thôn Làng Lần, xã Thế Kỷ, huyện Hữu Lũng.

Sống trong hoà bình, có gia đình đầm ấm, có công việc ổn định, nhưng trong lòng người đàn ông Vân Kiều luôn đau đáu nỗi nhớ quê hương, cộng đồng của mình. Nỗi nhớ quê hương được ông gửi vào tên hai đứa con nhỏ nhất trong sáu đứa con của mình: Hồ Văn Hướng, Hồ Văn Lập.

Năm 1975, khi đất nước thống nhất, ông khát khao được trở về quê hương, tìm lại người thân. Tuy vậy, ký ức của ông chỉ là ký ức của chú bé 12 tuổi, đến cha mẹ mình còn không nhớ rõ mặt. Quê hương vời vợi xa, đường về mù mịt góc bể chân trời, cha mẹ, người thân chẳng biết ai còn, ai mất. Nhưng nỗi ám ảnh về cội rễ vẫn âm thầm chảy trong huyết quản của người đàn ông Vân Kiều xa xứ.

Niềm khao khát càng cháy bỏng khôn nguôi, đến một ngày bừng lên, thành quyết định trở về. Người vợ đã có với ông 6 đứa con nhỏ, biết là không thể giữ chân chồng mình được, đành gạt nước mắt dặn dò: “Ông về quê, cố gắng thu xếp mọi việc trong vòng ba tháng thì về với mẹ con”.

Chỉ với sáu tiếng: “Hướng Lập – Hướng Hoá – Quảng Trị” và chút lộ phí ít ỏi, ông Hồ Lòi lặn lội tìm về quê nhà. Ấy là năm 1982. Vượt bao nhiêu đường rừng, đi cả tháng trời mới tìm về bản Cù Bai.

Trời thương ông, cho cha già còn sống để có ngày đoàn tụ với đứa con tưởng chừng đã biệt tăm tích, đến mức họ hàng còn lấy ngày ông ra đi làm ngày giỗ. Ông còn lại một người anh trai và đàn cháu nhỏ nheo nhóc mồ côi mẹ vì chị dâu ông cũng mất vì bom đạn.

Những năm ấy, cả nước cơ hàn, Cù Bai kiệt quệ, xơ xác vì sự tàn phá của chiến tranh, đất đai đầy bom mìn, không canh tác gì được. Tay trắng trở về, nhìn cha già, gia cảnh xơ xác, ông lần lữa không trở ra Bắc. Hàng ngày, ông vác dao lên rừng, làm nương phát rẫy cùng những người họ hàng của mình, kiếm củ sắn, củ mài để xoá cái đói dai dẳng.

 

Chuyện ông Hồ Lòi

Nhà ông Hồ Lòi

Dần dần, không hiểu sức mạnh nào, sợi dây huyết thống cội rễ và cả sự túng thiếu đã neo ông lại với mảnh đất chôn nhau cắt rốn này. Ông trở thành kẻ phụ bạc, bỏ mặc người vợ thương yêu và 6 đứa con nhỏ, đứa út ít ngày ông ra đi mới chỉ biết ngồi, đứa lớn nhất cũng mới 13 tuổi.

Lầm lũi suốt ngày với nương rẫy, ông già sọm đi nhanh chóng. Không còn hình ảnh của anh cán bộ miền Bắc về, ông đã trở thành một người nông dân miền núi lam lũ. Họ hàng ông, vốn đông nhất ở vùng này, tìm cách cưới vợ mới cho ông. Nhưng tục lệ cưới hỏi còn nặng nề, để cưới được một người vợ, phải có bảy, tám trăm bạc. Trong khi ông không có lấy một cắc giắt lưng thì cưới làm sao? 

Đến năm 1987, có người mối lái cho một cô gái mồ côi tên là Hồ Thị Nhía, cũng người Vân Kiều ở tận bên Lào, cách hai ngày đường đi bộ. Ông tặc lưỡi chấp nhận, vì không phải mất tiền cưới cheo. Thế là ông qua Lào sinh sống. Nhưng cuộc sống bên đó cũng chẳng khấm khá hơn, lại xa xôi cách trở. Ngày bố mất, anh trai mất, ông cũng không thể về chịu tang, họ hàng lại phải thay ông làm đám cho người khuất núi.

Và rồi số phận như không muốn buông tha, lại tiếp tục đầy ải ông già khốn khổ. Vợ chồng ông sinh được 3 đứa con, hai gái một trai. Cậu con trai khoẻ mạnh, đẹp như thiên thần, năm lên 10 tuổi bỗng nhiên đổ bệnh động kinh. Lâu lâu em lại lên cơn, nằm mê man, ai nhìn thấy cũng rất đau lòng.

Năm 2001, ông dắt díu vợ con về nước. Từ ấy đến nay, không một tấc ruộng nước, không một chút vốn liếng, vợ chồng con cái quần quật làm nương rẫy kiếm ăn, nhưng quanh năm vẫn thiếu đói. Hộ của ông là hộ nghèo nhất của bản Cù Bai.

Ngày chúng tôi đến nhà, vợ chồng ông cùng cô con gái lớn 18 tuổi đang đi rẫy, cậu con trai Hồ Văn Bình ngồi tựa cửa, đờ đẫn nhìn chúng tôi, trông rất tội. Lát sau, em Hồ Thị Sinh đi học về. 12 tuổi nhưng em mới học lớp 5, trông em rất ngoan, một dạ hai thưa. Căn nhà trống tuềnh toàng, gió lùa 4 bề liếp nứa, sàn cũng dát nứa phập phùng, chỉ có 4 cái nồi và 1 cái siêu đun nước là vật đáng giá nhất.

Điều ước ao không dễ cất lời 

 

Chuyện ông Hồ Lòi
Chuyện ông Hồ Lòi

Tôi nhờ các nhà báo tìm hộ các con tôi. Nói với các con tôi là tôi nhớ chúng nó lắm nhưng tôi không về được. Chỉ mong được gặp lại chúng nó một lần…

Thấy chúng tôi hỏi:

– 27 năm qua, ông có liên lạc gì với vợ con ngoài Bắc không?

Ông Hồ Lòi lắc đầu, nói những gì tôi không nghe rõ. Ông Hồ Thao Khằm, trưởng bản, nói thay:

– Năm 1995, thằng Sơn, con thứ ba của ông ấy vào trong này tìm bố. Nhưng lúc ấy ông ấy đang ở bên Lào, nó không tìm được, lại về. Sau đó, nó lại vào, sang tận Lào. Biết bố có vợ con bên ấy, chúng nó không liên lạc nữa.

– Thế sao từ khi về nước, ông không tìm cách liên lạc với bà và các con?

Người đàn ông cúi mặt. Ông đưa ra những lý do rất… không đâu vào đâu, như không biết viết thư nữa, không cầm bút được… Nhưng cuối cùng, ông gật đầu xác nhận điều cay đắng mà ông trưởng bản nói thẳng ra hộ ông: là tủi hổ, nhục nhã không dám nhận con, không dám quay về. 

Ông tủi hổ vì mình đã bỏ vợ con ra đi nên không dám quay về. Mà giả dụ có muốn quay về dù chỉ là để thăm con cháu lấy một lần, thì cũng không về nổi, vì ông không bao giờ có nổi tiền triệu để đi.

Ông nhục nhã vì từ một cán bộ lâm nghiệp được ăn học đàng hoàng, nay chỉ còn là một ông già nghèo hèn, khốn khổ, không dám quay về nhìn ai. Ông không thể quay về miền Bắc, nơi ông đã từng có những ngày đẹp nhất của cuộc đời mình.

Biết tôi là người Thái Nguyên, mắt ông chợt sáng lên một cách kỳ lạ, và ông sôi nổi nói khá nhiều về những ngày tháng theo học Trường Nông lâm Việt Bắc, những địa danh Khe Mo, Võ Nhai, Na Rì… mà ông đã theo trường đi sơ tán, đã học tập và gắn bó thế nào. “Tôi học sau Tổng bí thư Nông Đức Mạnh có một khoá thôi!”, ông Hồ Lòi tự hào.

Cuối buổi chuyện trò, tôi hỏi một câu làm ông sững sờ, và tôi ân hận ngay khi cất lời nhưng không kịp:

– Bây giờ, ông có nhớ các con ngoài đó không?

Ông già khốn khổ lặng phắc. Rồi từ hai hốc mắt khô, hai dòng nước mắt từ từ chảy xuống gò má nhăn nheo. Ông nói trong tiếng nấc nghẹn:

– Tôi nhớ lắm chứ!

– Ông có muốn liên lạc với các con ngoài đó không?

– Muốn lắm chứ, nhưng…

Chúng tôi hiểu những gì ông không thể cất lời đằng sau chữ “nhưng” ấy, nên đỡ lời:

– Vậy nếu chúng cháu tìm cách giúp ông liên lạc được với các con ông ở ngoài đó, ông có đồng ý không?

Ông già gật đầu rất nhanh. Đó là điều bất ngờ mà ông không thể nghĩ tới. Ông khẽ khàng nói:

– Tôi nhờ các nhà báo tìm hộ các con tôi. Nói với các con tôi là tôi nhớ chúng nó lắm nhưng tôi không về được. Chỉ mong được gặp lại chúng nó một lần…

Chúng tôi bàn nhau sẽ đưa câu chuyện buồn của ông Hồ Lòi lên báo.Và cũng bàn nhau một kế hoạch lên vùng Hữu Lũng, Lạng Sơn. Biết đâu đấy, chúng tôi có thể đem lại một niềm vui cuối đời cho ông già khốn khó ở miền đất Cù Bai xa xôi.

Nhưng trước hết, tôi viết lại câu chuyện này, và gửi tới bạn đọc , với hy vọng ai đó trong các bạn quen biết các con ông là: Hồ Văn Thích, Hồ Thị Bích, Hồ Văn Sơn, Hồ Thị Sen, Hồ Văn Hướng, Hồ Văn Lập, có mẹ là bà Ninh Thị Hồ, ở thôn Làng Lần, xã Thế Kỷ, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, thì kể lại cho họ câu chuyện này.

Và nói với họ điều mong mỏi của người bố vừa đáng giận vừa đáng thương của họ, rằng: ông chỉ mong được nhìn thấy họ một lần, chỉ một lần thôi, cũng thoả nguyện lắm rồi.

 

Tác giả bài viết: Hồ Thanh Đại