Thảo Luận Thêm Một Vài Khía Cạnh Tồn Nghi Rất Quan Trọng Và Nhạy Cảm Trong Lịch Sử Họ Hồ Việt Nam


Bài này tổng hợp một số ý kiến phản biện, thảo luận có nhiều khía cạnh khá đa diện nhưng tập trung vào 2 ý chính: 1) Bàn thêm phương pháp tiếp cận tư liệu và dấu tích liên quan lịch sử họ Hồ Việt Nam, nhất là về gốc tổ; 2) Nhưng Trọng tâm: Bàn về câu đối liên quan gốc tổ HHVN: “Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích/ Bào Sảo giang sơn vạn đại từ” nghĩa là gì?      

TS. HỒ BÁ THÂM (tổng hợp, tham khảo, bình luận)

Bài này tổng hợp một số ý kiến phản biện, thảo luận có nhiều khía cạnh khá đa diện nhưng tập trung vào 2 ý chính: 1) Bàn thêm phương pháp tiếp cận tư liệu và dấu tích liên quan lịch sử họ Hồ Việt Nam, nhất là về gốc tổ; 2) Nhưng trọng tâm: Bàn về câu đối liên quan gốc tổ HHVN: “Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích/ Bào Sảo giang sơn vạn đại từ” nghĩa là gì? 

Ý kiến thảo luận chủ yếu liên quan phản hồi rất hay rất đáng chú ý của anh HSĐ – một người rất quan tâm đến lịch sử họ Hồ nêu lên gợi ý, phản biện, thảo luận một vài nội dung còn tồn nghi, gây cấn, ý kiến còn rất khác nhau về lịch sử HHVN mà theo anh HSĐ là về cụ Hồ Hưng Dật và gốc Tổ HHVN mà Thường trực HĐHHVN đã xác lập!

Nhân sau khi đọc bài Hồ Hưng Dật sang Tĩnh Hải quân thời Hậu Hán – phát hiện những bất hợp lý đăng trên Web Tộc Hồ Việt Nam/ https://hohovietnam.vn/36FbF1Ae85H132F) của Hồ Bá Thâm, anh HSĐ đã nêu thêm các vấn đề khác như trên mà trong những người nghiên cứu lịch sử họ Hồ VN chủ yếu ở giai đoạn từ 1407 về trước (lùi về thế kỷ thứ X).

Nhưng hầu như các ý này thì Ban Sử HHVN cũng đã có nêu trong sách Họ Hồ Viêt Nam cội nguồn và phát triển (HHVNCNPT) và chúng tôi nêu trong sách Một hướng tiếp cận lịch sử họ Hồ Việt Nam (MHTCLSHHVN), hay nhóm tác giả khác nêu trong Họ Hồ Đại tộc Tam Công cội nguồn lịch sử họ Hồ Việt Nam (HHĐTTCCNLSHHVN) đã xuất bản (2018 đến 2020). Đó là vấn đề cũng đã nghiên cứu thảo luận khá kỹ và đưa vào bản thảo sách Bàn tiếp Một hướng tiếp cận lịch sử họ Hồ Việt Nam (BTMHTCLSHHVN). Hôm nay được cụ HSĐ nhắc, nhấn mạnh lại. Nhưng trong đó khi nghiên cứu sâu hơn chỉ thấy có một nội dung nổi lên là liên quan dịch 2 câu đối cho là gắn với gốc tổ HHVN ở Bào Đột/ Ngọc Sơn. Việc dịch hai câu đối này hiện rất khác nhau. Vậy dịch như thế nào cho đúng? Và điều này có liên quan ít nhiều như thế nào về gốc Tổ HHVN, việc thờ cúng tổ tiên, nhất là khu vực Bào Đột/ Ngọc Sơn. Phải chăng chúng ta đã hiểu nhầm và đã dịch chưa ổn hoặc có mội dung khá sai? Có thể dịch lại thế nào và vấn đề này liên quan gì đến gốc tổ HHVN hay không và nếu có thì như thế nào, cần nghiên cứu tiếp ra sao!?

Với tinh thần cầu thị, học hỏi cùng suy ngẫm, xin tổng hợp lại như sau:

 I. VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Ngày 6/12/2025 anh HSĐ gửi ý kiến cho tôi như sau:

Kính gửi Tiến sĩ Hồ Bá Thâm

Tôi đã đọc tài liệu của anh gửi. Đúng là một tài liệu suy nghĩ nghiêm túc. Tôi cũng đã chuyển tài liệu này cho anh HQT. Việc còn một số vấn đề tôi chưa thật nhất trí là đương nhiên thôi. Hy vọng chúng ta sẽ trao đổi dần dần để tìm ra những quan điểm chung về sử họ.

Để có thể làm được việc này, tôi muốn trao đổi với anh đôi điều dưới đây (nội dung vượt cả ra ngoài bài HBT đã gửi cho anh HSĐ liên quan đến thảo luận của nhiều người- HBT):

  1. Không phải riêng họ Hồ chúng ta đâu. Rất nhiều họ có sự khác biệt quan điểm về lịch sử họ mình. Nhưng để có thể từng bước đi tới thống nhất thì mọi người phải bình tĩnh, khách quan, không giữ cố định một thiên kiến. Đôi khi tôi cũng muốn trao đổi, nhưng thấy nhiều người (không chỉ từ một phía nào) dùng những từ ngữ căng thẳng, khiến cho tham gia vào cuộc trao đổi sẽ như cãi nhau.
  2. Quan điểm của tôi (và của các nhà nghiên cứu) là: Sách cổ càng sớm thì độ chính xác càng cao. Sách của người có khoa bảng biên soạn thì độ tin cậy càng cao. Tôi cho rằng cuốn phả cổ nhất của họ ta là cuốn HỒ TÔNG THẾ PHẢ của cụ Hồ Sỹ Dương (đời 22- 3 lần đậu Tiến sĩ) được khởi biên từ giữa thế kỷ XVII, với tựa đề ban đầu là “Hồ tộc gia phả thực lục”. Khi biên soạn cuốn sách này, cụ đang là Hữu thị lang trông coi sửa bộ “Đại Việt sử ký tục biên”, vì thế chắc là tài liệu cụ thu tập sẽ chính xác. Tiếp theo là nhiều đời khoa bảng nhuận sắc, cuối cùng là Giác Quận công Nhị giáp tiến sĩ Hồ Sĩ Đống. Vì vậy quan điểm của tôi là: Nền tảng của sử họ là cuốn Hồ tông thế phả. Các sách xưa như Hồ gia hợp tộc phả ký, Hồ gia thế phả… đều lấy cuốn sách này làm nền tảng. Cuốn Gia phả họ Hồ thôn Thuận An, xã Việt Thuận, huyện Vũ Thư Thái Bình có chụp lại bản chữ Nho Gia phả Hồ tộc Quỳnh Đôi, trang 2 bản chụp, trang 37 của sách, cột đầu tiên bên trái cũng ghi: “Tương truyền quyết sơ tiên tổ trạng nguyên Hồ Hưng Dật thượng quốc Tích giang nhân hậu Ngô thời hậu Hán Ẩn đế vi Diễn châu Thái thú…”.
  3. Chúng ta không thể giỏi hơn các cụ tiến sĩ ngày xưa, nhưng có thể vì sách chép tay, qua nhiều lần không còn nguyên như xưa, khiến cho xuất hiện tồn nghi hoặc những sai sót khiến người chép không dám tự sửa mà chua thêm một hoặc nhiều chữ nhỏ ghi bên cạnh để thể hiện ý mình. Tuy nhiên đoạn văn tôi in nghiêng nói trên thì có ở tất cả các phả cổ của họ Hồ. Bởi vậy những người dựa vào các phả cổ này đều cho rằng đoạn ấy đúng.

Do diễn biến của việc viết sử như vậy nên việc có những chi tiết cần xem lại là dễ hiểu. Dù thế nào cũng phải công nhận các cụ Quỳnh Đôi viết sử họ ngày xưa rất trân trọng Thọ Thành, thông qua việc dẫn chuyện và thơ của Hồ Tông Thốc và chuyện “Một nhà ba trạng nguyên ngồi”. Chính Hồ Phi Hội khi viết Hồ gia hợp tộc phả ký cũng đặt lại vấn đề Hồ Cao và Hồ Hồng ai anh ai em, nhưng căn cứ vào các phả trong làng (phả họ Nguyễn – thông gia họ Hồ được viết từ đời cháu Hồ Kha), Và cũng không dám bác ngay ý của đại thụ trí thức Hồ Sĩ Dương nên sau khi lập luận, cũng chỉ dám ghi: “chép mà biết tồn nghi”.

Gần đây, theo sự nghiên cứu của một số người (trong đó có anh), với những lập luận nghiêm túc đã đặt ra câu hỏi: Cụ Hồ Hưng Dật (HHD) sang VN năm nào? Lúc ấy có chức Thái thú Châu Diễn không?… Tôi không dám phản bác, nhưng mong chúng ta hãy bình tĩnh lắng nghe nhau để tìm được đáp số đúng.

  • Vừa qua một số người xuất phát từ việc muốn chứng minh Thọ Thành mới là gốc tổ họ Hồ Việt Nam nên đưa ra những lập luận khiên cưỡng:
  • Phủ nhận việc thờ cúng ở Bào Đột, mặc dù Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) nói rõ: Hồ Hán Thương cho xây dựng miếu thờ tại các lăng Bào Đột Phủ Linh Nguyên để thờ cúng tiên tổ. Thậm chí có người còn nói đại ý: Hồ Quý Ly là nhánh dưới có quyền gì mà vào xây miếu thờ ở Bào Đột, chẳng qua là để lấy lòng dân khi nhà Hồ đang bị oán thán. Với Vua mà nói vậy thì phải xem lại hiểu biết.
  • Ngay tấm ảnh ông HSH thắp hương trước một ngôi mộ trong khuôn viên nhà thờ Tam Công cũng được ghi chú: Ông HSH, Phó CTHDHH VN thắp hương trước mộ tổ?
  • Cố tình hạ thấp Hồ Hồng khi khẳng định rằng cuốn gia phả họ Hồ thôn Thuận An (Thái Bình) nói Hồ Hồng là con Hồ Cao. Việc dẫn sách ấy đã lấy 1 câu ở trang 31, mà bỏ qua mấy chữ cuối “Chưa biết ai đúng”, cũng bỏ qua cả chi tiết được ghi ở trang 6 nói do mất bản chính nên phải sao tìm phả của gia đình cùng với bia ký để viết phả. Do thời gian và chiến tranh cuốn phả họ bị mất trang và thất thoát nhiều… (với hoàn cảnh đó thì sai sót và xuất hiện tồn nghi là đương nhiên).
  • Đâu là gốc tổ họ Hồ: Họ Hồ Việt Nam may mắn có hai vấn đề lớn đã được thống nhất: Cụ Tổ của ta là Hồ Hưng Dật, và Bào Đột là từ đường của dòng họ (Bào Sảo giang san vạn đại từ). Tôi nghĩ rằng đây là hai chốt quan trọng nhất. Các vấn đề khác chỉ là chi tiết và tiếp tục trao đổi.

Tuy nhiên việc khẳng định Thọ Thành mới là gốc tổ họ Hồ để phủ nhận Bào Đột lại là một vấn đề cần được bàn:

  • Gốc tổ là gì? Là nơi phát tích ra họ ấy. Nếu vậy, gốc tổ của họ Hồ VN là ở Tích giang. Câu đối ở nhà thờ Tam Công đã khẳng định điều này “Tích giang thử địa ngô tiên thế” (Tích Giang đất ấy là tiên tổ của họ ta”. Thọ Thành có thể là nơi đầu tiên cụ làm việc, chứ không phải là gốc tổ. Bởi vậy, theo tôi cứ đòi gọi Thọ Thành là gốc tổ là không hợp lý.
  • Yêu cầu đưa nơi thờ cụ về Lăng Thành: Theo phong tục từ xưa đến nay, khi một nhân vật lịch sử ra đi, dân thường lập miếu thờ nơi người ấy sống cuối đời và mất ở đó. Với cụ Hồ Hưng Dật (HHD) thì đó là Bào Đột. Tôi đã trao đổi với ông Dương Trung Quốc về vấn đề này. Với các vĩ nhân thì có khi nơi thờ tự chính là do Vua (nhà nước) quy định. Ví như từ Vua Khải Định bắt đầu quy định thờ Hùng Vương tại núi Nghĩa Lĩnh; Nhà nước ta quy định Ba Đình là nơi cả nước về viếng Bác Hồ… Còn nơi thờ tiên tổ HHVN thì do Vua Hồ Hán Thương quy định. Tôi không hiểu vì sao mà việc này cứ phải bàn lại.

Có mấy ý trên tôi mạnh dạn trao đổi với anh, vì đánh giá anh là một nhà khoa học nghiêm túc.         

II. THẢO LUẬN TƯ LIỆU, DẤU TÍCH VÀ CÁCH TIẾP CẬN

HỒ BÁ THÂM (HBT)

Kính gửi anh HSĐ! (7/12/2025)

HBT cảm ơn anh HSĐ đã trao đổi thẳng thắn, nghiêm túc trên tinh thần khoa học lịch sử về các giả thuyết, tôn trọng nhau khi ý kiến khác biệt. Anh HSH khác xa một sô người… Hoặc thấy ý kiến khác với mình là qui động cơ cá nhân…, hoặc đóng zalo không thèm đối thoại, học hỏi, cầu thị. Một số tồn nghi lịch sử có ý kiến hay giả thuyết khác nhau là tất nhiên. Bình tĩnh nghiên cứu nghiêm túc sẽ gần sự thật hơn…! Anh HSĐ cũng nêu thêm ý kiến rất đáng thảo luận sâu hơn!

Các khía cạnh mà anh HSĐ thì thực ra đã bàn ở nhiều bài trong nhiều sách về lịch sử họ Hồ đã xuất bản kể cả trong bản thảo tài liệu nghiên cứu Bàn tiếp MCTCLSHHVN (sắp xuất bản), ở đây tôi chỉ xin trao đổi thêm vài ý nhân anh HSĐ nêu ra!

1- Tại sao không hội thảo khoa học?

“Để có thể từng bước đi tới thống nhất thì mọi người phải bình tĩnh, khách quan, không giữ cố định một thiên kiến” (điếu anh HSĐ nói, HBT xin lưu ý: cố định một thiên kiến).

Ngay cuốn sách mới nhất của Ban Sử, Thường trực Hội đồng họ Hồ Việt Nam (TTĐHHVN) như HHVNCNPT là một bước tiến nhưng cũng đặt ra, trước hết là phương pháp tiếp cận,…không ít nghịch lý đáng thảo luân trên tinh thần phản biện khoa học lịch sử và thật sự tôn trọng lẫn nhau! Sao TTHĐHHVN không làm gương trước và không công khai làm việc này? Ngại điều gì? Có người cho rằng nếu hội thảo thì chủ biên sẽ KHÔNG BẢO VỆ ĐƯỢC CÁC NGHỊCH LÝ LỊCH SỬ HHVN trong sách HHVNCNPT của mình?

Phải thừa nhận rằng: Anh HSĐ nêu quan niệm có tính phương pháp này là rất đúng, rất trúng! Nhưng…. Tại sao Ban Sử HHVN không chịu tổ chức hội thảo và đối thoại khoa học khi đã vài lần lên kế hoạch chính thức? Ngại điều gì? Do không được giải thích công khai, minh bạch nên có một số dư luận này nọ có khi không hay lắm?

Những khiá cạnh đó chúng tôi cũng đã thảo luận nhiều lần (có khi trong nhóm cũng tranh luận hơi căng), dưới nhiều góc độ và được tổng hợp/ ghi lại…! Tôi chỉ xin trao đổi vắn tắt thêm vài ý thôi:

2- Liệu tài liệu cổ mà chứa đựng nghịch lý và bị nghi ngờ liệu có tin cậy tuyệt đối đúng được không? Có quá nệ cổ không? Lẽ nào hậu sinh “không khả úy” nhất là trong khoa học?

Không có chắc chắn hơn hay 100% là các tài liệu cổ hơn thì đúng hơn và trong khoa học thì người xưa giỏi hơn hay không so với chúng ta!? Vấn đề là nó phù hợp với lịch sử và logic lịch sử như thé nào? Là khoa học thì phải luôn được chứng minh và phản biện dưới nhiều góc nhìn chứ không chỉ một chiều văn bản, dù là “cổ” đi nữa! 

Nếu theo lôgic của các anh là tài liệu cổ hơn đúng hơn như Hồ tông thế phả (HTTP)…. nên cuốn sách HHVNCNPT (2020, tr. 433, 434) mới có một số chi tiết lạ đời: như Hồ Cao sinh 1360, con Hồ Cao là Hồ Tông Thốc (HTT) đậu tiến sĩ năm 1363 (theo sách Thi cử học vị hoc hàm dưới các triều đại phong kiến Việt Nam), đậu trạng nguyên năm 1374 (bố mới hơn 10 tuổi đã có con đậu trạng mà con ít nhất cũng 17 tuổi, lạ thật?!). HHVNCNPT không chấp nhận HTT sinh 1324 là một ví dụ. Nếu HTT sinh 1324 thì hơn tuổi ông nội Hồ Kha (1325). Trong sách MHTCLSHHVN, 2019, tr. 58 cũng ghi lại là năm 1366 cụ HTT đã viết văn bia ở Bắc Ninh, 1383 soạn văn bia ở  Ninh Bình…

A HSĐ đọc sách Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên (QĐCKSTHB) thấy gì về Hồ Kha (năm 1314 đã ra thăm vùng Thổ Đôi trang? (kể cả HHQĐ trung chi 2, 3 và một chi ở Trung chi 5 cũng gi vậy). Anh HSH kiểm tra lại xem? Trong HHVNCNPT hầu như lờ đi tài liệu này lẽ nào không biết? Chắc anh HSĐ cũng rất hiểu rõ nghịch lý này! (Tại sao ngay cả các cụ xưa biết tồn nghi vậy là không thảo luận, không nghiên cứu?). Có khả năng cụ Hồ Kha có hai bà vợ chứ không chỉ như ghi chép của họ Nguyễn là có một?

Vậy tuổi tác hợp lý nhất của các cụ Hồ Kha, Hồ Hồng, Hồ Cao, Hồ Tông Thốc là bao nhiêu theo năm sinh mà ngày xưa ghi theo kiểu cổ âm lịch là hợp logic và lịch sử?

Tài liệu cổ là rất quí rất trân trọng nhưng nếu có nghịch lý thì vẫn bị nghi ngờ và bị phản biện ngay ở điểm đó chứ không phả phủ nhận toàn bộ nó? Nhận thức càng ngay càng đúng hơn chứ không nên nệ cổ! (HBT đã phân tích qua một số bài viết phần phương pháp luận tiếp cận… trong bản thảo Bàn tiếp MHTCLSHHVN khi HQT/ Ban Sử đưa ra quan niệm ấy) …

3- Tại sao không nghiên cứu sâu và phản biện?

Cũng như vậy nếu theo ĐVSKTT hay HTTP (“Tương truyền quyết sơ tiên tổ trạng nguyên Hồ Hưng Dật thượng quốc tích giang nhân hậu Ngô thời hậu Hán Ẩn đế vi Diễn châu Thái thú…”.) thì làm sao có chức Thái thú (lúc đó nêu Hậu Ngô bổ nhiệm như quan niệm trong HHVNCNPT phải là Thứ sử và lúc đó bên Tàu cũng không thể cử quan sang làm Thái thú?) và Thái thú Châu Diễn (lúc đó không còn Châu Diễn như HBT đã dẫn)? Hơn nữa ngay trong HTTP nói Hồ Hưng Dật (HHD) được “phụng mệnh” sang nhưng HHVNCNPT cũng lờ đi!

Các giả thuyết phải được chứng minh và lý giải được nhiều nghịch lý chứ không thể vẫn là hay tạo thêm nghịch lý?

Xin anh HSĐ tham khảo tài liệu sau (HBT đã dùng tư liệu này cách đây mấy năm và có phân tích, phản biện)

Cái gốc của họ Hồ Quỳnh Đôi bắt đầu từ nguyên tổ Hồ Hưng Dật. Theo Hồ tông thế phả thì vào “thời ngũ đại, triều Hậu Hán (947 – 951) đời Hán Ẩn Đế (948 – 951) Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, dòng dõi nhà nho thuộc dân Bách Việt ở Chiết Giang, nhận chức thái thú Châu Diễn”.

Thông tin trên về nguyên tổ Hồ Hưng Dật có một số điều khó hiểu.

Hồ Hưng Dật người Chiết Giang (hoặc Phúc Kiến) vào thời Ngũ đại thập quốc. Khu vực này khi đó thuộc đất Ngô Việt, là một quốc gia riêng. Người Ngô Việt thì rõ ràng là dân Bách Việt. Vậy làm sao ông Hồ Hưng Dật có thể đi thi đậu Trạng nguyên nhà Hậu Hán của người Sa Đà được? Nhà Hậu Hán kéo dài chỉ có 4 năm tất cả, gồm 2 đời vua đều ngắn ngủi, lúc đó còn đang mải đánh nhau, ổn định vương vị chưa xong, nói gì đến chuyện tổ chức thi cử qui mô quốc gia, có cả người nước khác đến dự thi.

Chuyện lạ thứ hai là Trạng nguyên nhà Hậu Hán sao lại sang nước Nam làm thái thú một châu lớn? Theo chính sử Việt thì nước ta đã dành độc lập từ thời Ngô Vương Quyền năm 938, sao tới tận những năm 950 vẫn có người nhà Hán được cử sang làm Thái thú nước ta?

Tiếp đến lại có một số tài liệu chép rằng Hồ Hưng Dật đã giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân (khoảng năm 965 – 967). Điều này lại càng khó hiểu vì loạn 12 sứ quân theo sử sách chỉ xảy ra ở miền Bắc, tới Ái Châu (Thanh Hóa) là cùng, làm sao lại vào tới tận Châu Diễn?

Xin đưa ra một giả thuyết khác về nguồn gốc và sự nghiệp của nguyên tổ Hồ Hưng Dật trên cơ sở những nhìn nhận mới đối với giai đoạn lịch sử bản lề này của nước ta.

Chuông cổ Nhật Tảo, quả chuông đồng cổ nhất còn lưu giữ được ở nước ta, có bài minh chép: Giao Chỉ huyện, Hạ Từ Liêm thôn, thời Càn Hòa lục niên Mậu Thân tuế, tứ nguyệt, nhị thập cửu nhật (thôn Hạ Từ Liêm, huyện Giao Chỉ, ngày 29/4 năm Mậu Thân, niên hiệu Càn Hòa thứ sáu).

Tìm hiểu trong sử liệu các triều đại Việt Nam thì không hề có niên hiệu Càn Hòa. Niên hiệu Càn Hòa là thuộc về vua nước Nam Hán Lưu Thịnh, đóng đô ở Quảng Châu trong thời Ngũ đại thập quốc ở Trung Quốc. Càn Hòa thứ sáu là năm 948.

Theo thông tin trên thì cùng thời gian Hồ Hưng Dật sang Việt Nam thì nước ta còn đang thuộc về Nam Hán Lưu Thịnh. Giao Chỉ vẫn còn đang là huyện chứ không phải thủ đô. Như vậy có thể thấy việc Hồ Hưng Dật đỗ Trạng nguyên và làm Thái thú Châu Diễn là xảy ra dưới triều Hán ở Quảng Châu, chứ không phải Hậu Hán Sa Đà.

Nam Hán thành lập từ Lưu Cung, lúc đầu lập quốc gọi là Đại Việt, sau đó mới đổi sang thành Hán. Tên Nam Hán chỉ là cách gọi của các sử gia sau này để phân biệt với Bắc Hán. Tên chính xác của nước này là Đại Hưng, như trong đồng tiền Đại Hưng bình bảo tìm thấy ở nước ta. Đây là quốc gia của người Việt chính cống.

Năm 924 Nam Hán đế ban đầu cải danh thành Trắc (). Nhưng chỉ một năm sau, nhân “rồng trắng hiện lên” nên đổi niên hiệu thành Bạch Long và cải danh lại thành Cung ().

Chi tiết này khá giống với việc Lý Công Uẩn khi dời đô thấy rồng bay lên. Một số tài liệu chép Lý Công Uẩn người gốc Mân. Rất có thể người gốc Mân ở đây chính là Lưu (Lý) Cung, người lập nước Đại Việt dưới thời Ngũ đại. Vì Lý Cung người gốc Mân nên Hồ Hưng Dật, người Phúc Kiến – Chiết Giang hoàn toàn có thể đi thi ở nước Đại Việt – Đại Hưng.

Nước Đại Việt – Đại Hưng tồn tại từ thời Lưu Cung tới Lưu Sưởng kéo dài 54 năm. Trong thời gian này chắc chắn đã có tổ chức thi cử theo chế độ của nhà Đường trước đó. Một trong những Trạng nguyên của nước Đại Hưng này là Tống Trân huyện Phù Hoa. Vì thế Hồ Hưng Dật, người gốc Mân hoàn toàn có thể là một Trạng nguyên khác của nước Nam Hán – Đại Hưng. Không biết có sự trùng hợp hay không nhưng trang Bào Đột ở Quỳnh Lưu nơi Hồ Hưng Dật lui về lập ấp thuộc giáp cũng tên là Phù Hoa.

Câu chuyện Hồ Hưng Dật dưới thời Càn Hòa đỗ Trạng nguyên nhà Nam Hán (Đại Hưng) và sang làm Thái thú Châu Diễn cho thấy mãi tới năm 950 nước ta vẫn đang thuộc Nam Hán (Đại Hưng). Cuộc chiến dành độc lập của Ngô Quyền như vậy không phải xảy ra năm 938 như sử vẫn chép.

Tới đây thì chuyện Hồ Hưng Dật giúp Đinh Bộ Lĩnh cũng được sáng tỏ. Đinh Bộ Lĩnh nghĩa là Thủ lĩnh của Đinh Bộ hay Tĩnh Hải tiết độ sứ, chính là vị vua Lý đầu tiên – Lý Công Uẩn (?- HBT). Khi triều đình Lưu (Lý) Sưởng ở Quảng Châu suy đồi, ông Đào Cam Mộc và sư Vạn Hạnh đã đưa thủ lĩnh phần Tĩnh Hải (phần phía Tây của nước Đại Hưng) là Lý Công Uẩn lên ngôi. Hồ Hưng Dật là Thái thú Châu Diễn, thuộc Đinh Bộ nên việc ông giúp Đinh Bộ Lĩnh – Lý Công Uẩn (?- HBT) “dẹp loạn” là hiển nhiên. Họ Hồ hẳn là một công thần lập quốc nên sau đó mới có chuyện một “tuấn kiệt” nhà họ Hồ đã lấy công chúa Lý Nguyệt Đích sinh ra công chúa Hồ Nguyệt Đoan như Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi lại…/ Dòng họ Hồ ở Quỳnh Đôi/ TRANG CÁCH VIỆT TRÙNG CỬU/ https://bahviet18.com/2012/12/09/dong-ho-ho-o-quynh-doi

HBT: Đây là tài liệu mà chúng ta cần tham khảo xem cái gì có lý, phù hợp các tương quan lịch sử, còn cái gì không?

Ví dụ: Cuộc chiến dành độc lập của Ngô Quyền như vậy chắc chắn là xảy ra năm 938 như chính sử ghi chứ không phải thời gian sau đó, tức sau năm 950 – 960? Phải chăng tác giả bài nêu trên quá tin vào ĐVSKTT về thời điểm Hồ Hưng Dật (HHD) sang thời Hậu Hán ngũ đế (947-951)?

4- Ở Bào Đột/ Ngọc Sơn không có dấu ấn/ tâm thức của Thành hoàng, Nhị Đẳng thần HHD?

Bào Đột Ngọc Sơn (có hương Bào Đột rộng hơn vùng Ngọc Sơn, bao gồm vùng lân cận Yên Thành nay hay không?) là gốc Tổ HHVN thì phải chứng minh cho thuyết phục không chỉ văn bản mà nhất là một số dấu tich căn bản?

HBT rất trân trọng về xây dựng Đền thờ cụ tổ HHVN tại Bào Đột/ Ngọc Sơn hiện nay. Và thời nay xây dựng đền thờ cụ Nguyên tổ HHD ở đó là phù hợp ĐẠI DIỆN CHO VÙNG ĐẤT CHÂU DIỄN HAY HOAN CHÂU XƯA chứ không chỉ ở nơi Bào Đột/ Ngọc Sơn ấy!

Xin nhắc lại ý của anh HSĐ: “Theo phong tục từ xưa đến nay, khi một nhân vật lịch sử ra đi, dân thường lập miếu thờ nơi người ấy sống cuối đời và mất ở đó. Với cụ HHD thì đó là Bào Đột. Tôi đã trao đổi với ông Dương Trung Quốc về vấn đề này. Với các vĩ nhân thì có khi nơi thờ tự chính là do Vua (nhà nước) quy định. Ví như từ Vua Khải Định bắt đầu quy định thờ Hùng Vương tại núi Nghĩa Lĩnh; Nhà nước ta quy định Ba Đình là nơi cả nước về viếng Bác Hồ…Còn nơi thờ tiên tổ HHVN thì do Vua Hồ Hán Thương quy định. Tôi không hiểu vì sao mà việc này cứ phải bàn lại”.

HBT: So sánh trên không thuyết phục anh ạ! Vì:

a) HHD cụ không phải vĩ nhân? Hơn nữa thờ cụ tổ đâu trước hết là việc của họ tộc và nhân dân ở làng nếu là thành hoàng sau khi người mất một thời gian

b) Và quan trọng nhất là trước khi thờ ở Bào Đột/ Ngọc Sơn (BĐ/NS) thì cụ HHD được thờ ở đâu? Chả lẽ đến thời HQL mới có nơi thờ ư? Có lẽ nào con cháu, hậu sinh bất hiếu vậy sao? TẠI SAO CÓ ĐỀN THỜ TRUNG ĐẲNG THẦN HỒ HƯNG DẬT Ở QUÝ LĂNG? Tại sao danh xưng (Hồ Hưng Dât trung đẳng thần quân đệ nhị thần) rất cổ này không thấy (thờ cúng, lễ hội) ở vùng Bào Đột/ Ngọc Sơn?

c) “Theo phong tục từ xưa đến nay, khi một nhân vật lịch sử ra đi, dân thường lập miếu thờ nơi người ấy sống cuối đời và mất ở đó. Với cụ HHD thì đó là Bào Đột.” (HSĐ). Còn qua nghiên cứu tài liệu, dấu tích, tâm thức dân gian thì ở Bào Đột/ Ngọc Sơn hầu như phản lại, không chứng minh được điều đó mà lại chứng minh đó là ở vùng Quỳ Trạch xưa! Tại sao ở vùng Lăng Thành có đền thờ Trung đẳng thần HHD còn ở BĐ/NS có gì trước 1403?

Ở đền VUA HỒ trong LỄ RƯỚC CHỈ THẤY RƯỚC DÂNG VUA HỒ, không thấy nhắc gì dâng cụ Thành hoàng HHD cả (theo như trình bày của cụ Hồ Bá Hiền)/ https://hohovietnam.blogspot.com/2012/06/su-ho-ho-viet-nam-bien-soan-ho-ba-hien.html?m=1;

d) Hương Bào Đột = Ngũ Bàu có nhầm lẫn gì về tên gọi khi ở Yên Thành cũng có Bàu Đót, vùng Ngũ Bàu. Hương Bàu Đột xưa là rất rộng chứ đâu chỉ vùng 5 thôn bào/ Ngọc Sơn, CÓ THỂ BAO HÀM CẢ MỘT PHẦN VÙNG QUỲ TRẠCH YÊN THÀNH chăng? Hay từ chính là “hương Bàu Trạch” tương ứng tổng Quỳ Trạch xưa? Chúng ta nghiên cứu rõ thêm khi còn có quan niệm khác nhau! 

e) Khi từ quan HHD đưa vợ con về hương Bào Đột (Bào Đột hay Bàu Trạch?) theo HQT trong HHVNCNPT, tức HHD đã sinh sống lấy vợ sinh con ở vùng Quỳ Trạch xưa chứ đâu phải chỉ là nơi công tác, hay đi qua? Vợ con ở mô quê hương ở đó?

g) Theo TS Trần Đính Phong thời Nguyễn, Giám đốc Quốc Tử Giám thì sau khi HHD thôi quan là về vùng Ngũ Bàu và mất ở đó, mộ cũng ở đó!?

h) Lúc vua HHT xây miếu thờ tiên tổ ở Bào Đột/ Ngọc Sơn nay thì trước đó trạng nguyên Hồ Tông Thốc đã về sửa sang tu chỉnh lại nhà thờ họ Hồ ở Tam Công – nhà thờ họ Hồ lâu đời duy nhất ở VN lúc đó và cho cả đến ngay nay việc đó nói lên điều gì?  

Sau đây xin bàn thêm về hai câu đối

III. TƯ LIỆU THAM KHẢO THÊM LIÊN QUAN CÂU ĐỐI

HBT: Một nhà nghiên cứu – khảo cứu đã viết cần tham khảo (để thấy sai đúng thế nào):

Đền thờ nguyên tổ Hồ Hưng Dật ở Quỳnh Đôi (sai- HBT) do Hồ Hán Thương vâng lệnh Thái thượng hoàng Hồ Quí Lý xây cất có câu đối: Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích Bào Sảo giang sơn vạn đại từ.

Chữ “Trần Ngu” ở đây có thể không phải nghĩa là nhà Trần và nhà Hồ (có quốc hiệu Đại Ngu). Đền vua Hồ thì liên quan gì đến nhà Trần bị lật đổ trước đó mà phải viết vào câu đối thờ? “Trần Ngu” là chỉ viễn tổ họ Hồ là Ngu Vĩ Mãn hay Hồ Công, dòng dõi Đế Thuấn được Chu Vũ Vương phong ở đất Trần. Hồ Quí Ly lấy quốc hiệu là Đại Ngu, nhận mình là dòng dõi Đế Thuấn, thì có thể thấy Đế Thuấn, hay cả giai đoạn mà Kinh Thư gọi là Ngu Thư gồm Nghiêu – Thuấn – Vũ đều là lịch sử người Việt.

Dịch lại câu đối trên: Tích nghìn năm Ngu Hồ trải lịch/ Đền vạn thế Bào Sảo non sông.

Câu đối khác ở Đền vua Hồ ở Quỳnh Lưu: Cổ nguyệt môn cao, hệ xuất thần minh Ngu đế trụ Bảng sơn địa thắng, thế truyền thi lễ Khổng sư tông.

Cổ 古 nguyệt 月 là chiết tự của họ Hồ 胡 .

Dịch: Cửa cao trăng Hồ, sinh ra dòng dõi anh minh đế Ngu Thuấn
Đất lành núi Bảng, các đời truyền lễ nghĩa thầy Khổng Khâu.

Vế trên nói đến dòng máu lãnh tụ của họ Hồ từ Ngu Thuấn, Hồ Quí Ly… Vế dưới nói đến truyền thống thơ văn, lễ nghĩa của dòng tộc có học, có chữ. Con cháu họ Hồ mang trong mình dòng máu của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, khai quốc công thần thời Đinh – Lý nên nhớ 2 vế đối trên ở đền thờ nguyên tổ / https://bahviet18.com/2012/12/09/dong-ho-ho-o-quynh-doi/.

IV. BÀN VỀ CÂU ĐỐI LIÊN QUAN GỐC TỔ

HỒ MINH CHÂU (HMC):

Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích
Bào Sảo giang sơn vạn đại từ”
(nghĩa là gì?)

Kính gửi Tiến sĩ Hồ Bá Thâm

Một số nhà nghiên cứu về họ Hồ trong đó có câu đối (từ khi Hồ Hán Thương xây miếu thờ để thờ cúng tiên tổ tại hương Bào Đột) “Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích, Bào Sảo giang sơn vạn đại từ”) đã trao đổi với bác nhưng hầu như họ không hiểu hết câu ấy nghĩa là gì?

Từ góc độ nghiên cứu của mình, tôi xin gửi đến bác vài phân tích của mình về ngữ nghĩa câu đối và hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ; bác có thể trao đổi lại với họ, đây là nghiên cứu của tôi (Hồ Minh Châu) như sau:    

Câu chuyện bắt đầu từ Hồ Quý Ly. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư – Bản Kỷ – quyển VIII do các tác giả Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên…Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697); Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 1993: “ Quý Ly tên tự là Lý Nguyên, tự suy tổ tiên là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang, đời Hậu Hán thời Ngũ Quý sang làm Thái thú Châu Diễn. Sau đó, làm nhà ở hương Bào Đột châu này rồi làm trại chủ… Đến đời 12 là Hồ Liêm dời đến ở hương Đại Lại (Thanh Hóa) làm con nuôi Tuyên úy Lê Huấn, từ đấy lê Lê làm họ mình. Quý Ly là cháu 4 đời của Huấn”, nghĩa là Hồ Liên là ông nội của Hồ Quý Ly.

“Hán Thương dựng miếu ở các lăng tẩm tại Thiên Xuong, để thờ cúng tổ khảo, sớm chiều cúng tế, Lại dựng miếu thờ ở các lăng tẩm Bào Đột, Linh Nguyên để thờ cúng tiên tổ. Ở Kinh thành thì dựng Đông Thái miếu để thờ cúng tông phái họ mình, Tây thái miếu để thờ họ ngoại là Trần Minh Tông và Trần Nghệ Tông”.  

Từ ĐVSKTT kể trên, có mấy vấn đề thảo luận:

1/ Quý Ly là cháu 4 đời của Huấn. Trong Họ Hồ Việt Nam- Cội nguồn và phát triển của HQT viết “Quý Ly là cháu 4 đời của Hồ Liêm”, không biết dựa vào đâu?

2/ Thờ cúng tổ khảo tức là thờ đời thứ 3 (tức là thờ cúng ông nội là Hồ Liêm)

3/ Thờ cúng tiên tổ nghĩa là thờ từ đời thứ 5 trở lên (nhiều đời), tức là trên ông nội của Hồ Liêm đến các đời trên đó (thất truyền). Tính từ Hồ Hưng Dật xuống còn 10 đời nữa, là những đời mà sử, phả họ thường gọi là 11 đời thất truyền. Không thể khẳng định thờ cúng tiên tổ là thờ cúng Hồ Hưng Dật như một số người suy diễn. Có người lại nói “Đền thờ nguyên tổ Hồ Hưng Dật ở Quỳnh Đôi” thì câu này hoàn toàn sai, không có dữ liệu cơ sở nào để nói vậy!

 Hồ Hán Thương dựng miếu thờ ở Bào Đột để thờ cúng tiên tổ, có câu đối:

Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích
Bào Sảo giang sơn vạn đại từ – nghĩa là gì?

1/ “Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích” là một cụm theo lối Hán – Việt cổ, thường xuất hiện trong văn tế, gia phả, hoặc câu đối thờ tự. Ta hiểu nghĩa như sau:

Giải nghĩa từng chữ

  • Trần Ngu (陳虞):

Trần và Ngu là hai triều đại cổ trong lịch sử Trung Hoa (Trần quốc và Ngu quốc).

Trong văn chương Hán – Việt, cặp “Trần – Ngu” thường dùng để chỉ thời đại của các bậc thánh vương thuở xưa, thời thịnh trị, nền nếp sáng suốt.

  • Kinh kỷ (經紀):

“Kinh” = quản lý, điều hành.

“Kỷ” = trật tự, quy củ.

➝ “Kinh kỷ” nghĩa là giữ gìn và sắp đặt nền nếp, chấn chỉnh trật tự.

  • Thiên thu tích (千秋績):

“Thiên thu” = ngàn thu, muôn đời.

“Tích” = công tích, công nghiệp.

➝ “Thiên thu tích” = công đức còn mãi ngàn đời.

Nghĩa toàn câu

“Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích” có thể hiểu là: Noi theo nền nếp của các thánh vương Trần – Ngu, gây dựng công nghiệp, công đức lưu truyền muôn thuở.

 “Trần Ngu” là chỉ viễn tổ họ Hồ là Ngu Vĩ Mãn hay Hồ Công, dòng dõi Đế Thuấn được Chu Vũ Vương phong ở đất Trần. Hồ Quí Ly lấy quốc hiệu là Đại Ngu, nhận mình là dòng dõi Đế Thuấn, thì có thể thấy Đế Thuấn, hay cả giai đoạn mà Kinh Thư gọi là Ngu Thư gồm Nghiêu – Thuấn – Vũ đều là lịch sử người Việt (Bách Việt).

Chữ “Trần Ngu” ở đây có thể không phải nghĩa là nhà Trần và nhà Hồ (có quốc hiệu Đại Ngu/VN). Đền vua Hồ thì liên quan gì đến nhà Trần bị lật đổ trước đó mà phải viết vào câu đối thờ?

2/ “Bào Sảo giang san vạn đại từ” là một câu theo lối Hán – Việt, thường xuất hiện trong văn tế, văn chúc hoặc gia phả, mang ý nghĩa ca ngợi công đức tổ tiên khai quốc, dựng nghiệp.

Giải nghĩa từng phần:

  • Bào Sảo (胞巢): nghĩa gốc là “cái tổ”, “chỗ nương thân ban đầu của con người”, thường dùng để chỉ quê hương gốc, “nguyên quán”, hoặc tổ nghiệp do tổ tiên gây dựng.

“Bào Sảo” không phải là tên riêng của một địa danh. Đây là từ Hán – Việt, nghĩa gốc là:

Bào (胞): bọc, ruột thịt.

Sảo (巢): cái tổ.

Bào Sảo nghĩa là “cái tổ ruột thịt”, gốc rễ, nơi phát tích của dòng họ, hiểu là quê hương gốc, tổ nghiệp do tổ tiên gây dựng.

  • Giang san (江山): non sông, đất nước; trong văn tế dòng họ thường hiểu là cơ nghiệp, giang sơn của tổ tiên.
  • Vạn đại từ (萬代慈 / 萬代祠):

Nếu là “vạn đại từ” (萬代祠) thì nghĩa là đền thờ đời đời muôn thuở, nơi thờ phụng tổ tiên đến muôn đời.

Nếu là “vạn đại từ” (萬代慈) thì mang nghĩa ân đức, lòng từ bi, sự phù hộ muôn đời.

3/Tổng ý nghĩa:

“Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích” có thể hiểu là: NOI THEO NỀN NẾP CỦA CÁC THÁNH VƯƠNG TRẦN – NGU, GÂY DỰNG CÔNG NGHIỆP, CÔNG ĐỨC LƯU TRUYỀN MUÔN THUỞ.

“Bào Sảo giang san vạn đại từ” có nghĩa là: TỔ NGHIỆP (QUÊ GỐC) VÀ GIANG SAN DO TỔ TIÊN ĐỂ LẠI LÀ NƠI THỜ PHỤNG, CHE CHỞ CHO CON CHÁU ĐẾN MUÔN ĐỜI; CÔNG ĐỨC ẤY CÒN MÃI VẠN ĐẠI.

Kết luận:

Không có một vùng đất nào chính thức ở Nghệ An có tên là “Bào Sảo”!

Bào Sảo không phải là Bào Đột như một số người ngộ nhận/ “bẻ lái”!

(Ngày 8/12/2025/ HMC)

 IV- HỒ BÁ THÂM

HBT: Cảm ơn HMC! MỘT BẢN DỊCH KHÁC HẴN! Nhưng câu đối ấy ai viết và viết vào thời nào? Dấu tích nào còn lại? Có phải là do vua Hồ Hán Thương (HHT) sai người viết hay đời sau viết? Các nhà thờ khác có câu này không? Nó có ám chỉ vùng Bào Đột/ Ngọc Sơn không? Và tại sao Bào Sảo lại viết hoa đối với Trần Ngu?

Địa danh Quỳnh Lưu ghi đó là núi Sảo hay Y Sảo thật sự hay không? Cần xem câu này trong sách Ninh Viết Giao (Địa chí văn hóa Quỳnh Lưu) có chụp chữ Hán, Hán Nôm không? Ông Ninh viết Giao dịch nghĩa thế nào nhé? Nếu có cần chụp trang ấy xem sao?

HMC: Trong chữ Hán không có chữ viết hoa, chỉ có chữ viết thường. Khi dịch nghĩa sang quốc ngữ, chuyển sang viết hoa là chủ ý của người dịch hoạc người viết hiểu nhầm hay lái câu chuyện sang hướng khác (đã hiểu cố định là thế).

V. THẢO LUẬN- DỊCH CÂU ĐỐI SAO CHO PHẢI, PHÙ HỢP?

HBT: (1). So sánh và phát hiện: Như vậy, theo phân tích trên thì Trần Hồ không phải là nhà Trần và nhà Hồ như tài liệu Trang sử họ Hồ của Hồ Bà Hiền ghi “trang 15: Nhân đân còn nhớ một đôi câu đối ở đền này:”Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích – Bào Sảo giang sơn vạn đại từ” (Nghĩa: Dấu vết nhà Trần và nhà Hồ đã trải qua hàng ngàn năm – vì nhà Hồ đặt quốc hiệu là Đại Ngu – Cái đền thờ ở Bào Đột và núi Sảo này còn mãi với giang san). Tại Bào Đột còn có bãi đấu, bãi tập, bãi đóng quân, động cột cờ. Đền thờ Nguyên Tổ (trước 2014 không có xung danh này – HBT) là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ thời Trần Hồ có giá trị nghệ thuật cao. Tiếc rằng do một chủ trương quá tả mà năm 1971, địa phương đã phá dỡ để lấy gỗ gạch ngói làm việc khác, nay còn lại một số gạch và cả khu đất cũ.” 

Theo dịch trên của HBH thì nhà Trần nhà Hồ này là 2 triều ở Việt Nam.

Và sách HHVNCNPT do HQT chủ biên, tái bản 2020 trang 30-31 cũng giống vậy. “Dấu vết Trần – Hồ trải hàng ngàn năm/ Đền thờ trên núi Sảo – Bào Đột còn mãi với giang sơn” (vân như ý của HBH). Mà vậy sao đã mấy nghìn năm? Vì nhà Hồ đặt quốc hiệu là Đại Ngu”. Thế cũng không đúng! Nhà Trần thì sao? Hiểu nghĩa và dịch thuật sai sai thế nào ấy?

(2) Rõ ràng ” Chữ “Trần Ngu” ở đây có thể không phải nghĩa là nhà Trần và nhà Hồ (có quốc hiệu Đại Ngu/ VN). “Đền vua Hồ” (Hồ Hưng Dật không phải vua- HBT) thì liên quan gì đến nhà Trần bị lật đổ trước đó mà phải viết vào câu đối thờ?

Trần Ngu” là chỉ viễn tổ họ Hồ là Ngu Vĩ Mãn hay Hồ Công, dòng dõi Đế Thuấn được Chu Vũ Vương phong ở đất Trần. Hồ Quí Ly lấy quốc hiệu là Đại Ngu, nhận mình là dòng dõi Đế Thuấn, thì có thể thấy Đế Thuấn, hay cả giai đoạn mà Kinh Thư gọi là Ngu Thư gồm Nghiêu – Thuấn – Vũ đều là lịch sử người Việt.”. Và nhà Trần- Hồ (VN) mới đó sao mấy ngàn năm vậy? Rõ ràng là đã dịch sai? DỊCH DỨNG LÀ (Trần Hồ) “TRẦN NGU” là chỉ VIỄN TỔ HỌ HỒ LÀ NGU VĨ MÃN hay Hồ Công, dòng dõi Đế Thuấn được Chu Vũ Vương phong ở ĐẤT TRẦN” THÌ MỚI TRẢI MẤY NGHÌN NĂM!

Và dịch “Dấu vết Trần – Hồ…” thì hơi thô thiển quá! (xem thêm  của HMC nói về công tích, công đức, sự nghiệp…  thấy nghĩa nó sâu xa thâm nho trong câu đối)

Rồi câu đối vế 2 như HMC cắt nghĩa nó cũng sâu xa hơn, khái quát, ý nghĩa  hơn tương ứng vế 1 (Bào Sảo nghĩa là “cái tổ ruột thịt”, gốc rễ, nơi phát tích của dòng họ, hiểu là quê hương gốc, tổ nghiệp do tổ tiên gây dựng), chứ đâu chỉ là tên riêng? HOẶC VỪA NGHĨA CHUNG VỪA TÊN RIÊNG VỪA CHƠI CHỮ? Biết đâu “Bào Sảo” là do người viết câu đối đặt tên?

Câu đối xưa các cụ Nho là nho nhã lắm, là ý tại ngôn ngoại, không đơn điệu, thô thiển, dễ dãi, cốt lấy địa danh, vị trí. vế tích… như cách dịch nghĩa của cụ HBH hay HQT hay cả trong sách của Ninh Viết Giao (Địa chí văn hóa huyện Quỳnh Lưu, 1998, tr. 456)!

So sánh thêm câu đối sau cũng nói: Cửa cao Trăng Hồ sinh ra dòng dõi anh minh Ngu Thuấn và câu dưới đất lành núi Bảng, các đời truyền lễ nghĩa thầy Khổng Khâu.

(3) Hơn nữa Bào Sảo có phải là tên khác của Bào Đột hay không hay thật sự có núi Sảo hay không hay chỉ có núi Ngai như vẫn thường truyền thông? Lại có nhà báo diễn dịch là núi Y Sảo? Phải tra cứu lại cẩn thận, kể cả phạm vi hương Bào Dột, hay Bàu Trạch nữa? (ý này đã bàn thảo nhiều và có trong bản thảo Bàn tiếp Một hướng tiếp cận lịch sử họ Hồ Việt Nam của chúng tôi… ).

Tra cứu lại  (ngày 14/12/2025) Địa chí văn hóa Quỳnh Lưu (Nxb Nghệ An, 1998, tr.545) thì có nói tời dãy núi Y Sảo: “Đền năm trên hòn Rồng, trái là hòn Ngọc bên phải là hòn Rết. Ba hòn này đều năm trong dãy núi Ý Sảo. Đó là thế núi “Long Ngai”!

Còn trang 546 thì ý câu đối cũng dịch như ý của HBH và HQT trong tài liệu, hay sách đã nêu trên, không có gì khác! Như đã nói Dấu vết Trần – Hồ đã trải hàng ngàn năm (dù có chú thích về nhà Hồ lấy quốc hiệu Đại Ngu) là vô cùng vô lý! Và không ít người nhầm lẫn Trần Hồ trong vế câu đối trên là nhà Trần, nhà Hồ ở VN. Ngay câu 1 đã 2 nhầm lẫn.  Câu 2 không phải núi Sảo (Sơn Sảo) mà là Bào… Bào Sảo- MỘT VÙNG ĐẤT CÓ THỂ RẤT RỘNG LỚN chứ không phải sảo là chỉ núi Sảo? BÀO SẢO không phải SƠN SẢO?! Như vậy dịch câu 2 của câu đối cũng GƯỢNG ÉP, không chuẩn xác luôn! Tại sao vậy?

Hơn nữa là BÀO SẢO hay BÀO SÀO? Có phải tam sao thất bản không? BẢN GỐC KHÔNG CÒN THẤY Ở ĐÂU?

HBT nhớ có lần (16/12/2025) anh HSĐ nó với HBT:”Tôi vẫn muốn nhấn mạnh một ý: Các cụ trạng nguyên, tiến sĩ ngày xưa đều uyên kim bác cổ. Họ đọc rất nhiều sách Trung hoa bản gốc. Còn ta bây giờ lại trao đổi với nhau chữ Hán qua chữ quốc ngữ nên cùng một âm, mỗi người theo ý mình dưa ra một chữ khác nhau, thì việc tranh luận chẳng có hồi kết!”

HXA (12/12/2025): Anh HBT ạ, Tôi tìm trong từ điển cả Hán lẫn Nôm đều không có chữ Sảo (dấu hỏi) CÓ NGHĨA LÀ TỔ. Chữ và nghĩa mà HMC đưa ra là chữ sào (dấu huyền). Anh xem phụ lục sau đây (…)

Sự thật ngay hai câu đối khác đã dẫn trên không chỉ nhắc tới CỘI NGUỒN TIÊN TỔ Ngu Vĩ Mãn hay Hồ Công, dòng dõi Đế Thuấn được Chu Vũ Vương phong ở đất Trần (là nghĩa của 2 chứ thờ TIÊN TỔ ở Bào Đột CỦA VUA HQL/ HHT) mà còn nhắc tới núi Bảng (cách đó 7- 8 km ở phái biển Quỳnh Bảng nay thuộc Quỳnh Anh chứ đâu chỉ ở Thượng Đột).

Vậy Bào Sảo có thể là một hương hay kết nối Bào Đột và núi Sảo mà thành? Mà hương Bào Đột hay hương Bàu Trạch xưa? (xem HTTP) chắc rộng lớn chứ không bó hẹp ở vùng Thượng Đột hay Ngọc Sơn- Quỳnh Lâm (Bào Đột thời nhà Hổ đổi thành An Trường)? Tại sao vùng Quỳ Lăng, Quỳ Trạch xưa lại có nhiều dấu tích Thành hoàng Hồ Hưng Dật mà ở vùng Thượng Đột này lại không thấy trong tâm thức dân chúng và thờ phụng?!

(4). Rồi việc dựng miếu thời TỔ TIÊN bên lăng tẩm lại dịch thành đền thờ Hồ Hưng Dật cũng gượng ép. Tổ tiên ở đây là từ đời thứ 5 trở lên kể từ cụ Hồ Quý Ly. Trong TỔ TIÊN/ tiên tổ nói ở đây không chỉ có Hồ Hưng Dật mà cho tới Viễn Tổ xa hơn tận cội nguồn họ Hồ ở phương Bắc kia (như đã nêu).

Tức  “chỉ VIỄN TỔ HỌ HỒ LÀ “NGU VĨ MÃN” hay Hồ Công, dòng dõi Đế Thuấn được Chu Vũ Vương phong ở ĐẤT TRẦN!”. Việc vua Hồ Quy Ly đặt tên nước là Đại Ngu và trong câu đối Trần Hồ đã trải hàng nghìn năm nói trên đã chứng minh điều đó!

Nếu Thượng hoàng HỒ QUÝ LY MUÔN LẬP ĐỀN THỜ HỒ HƯNG DẬT THÌ ĐÃ NÊU ĐÍCH DANH. Không! Ông chỉ nói là THỜ TỔ TIÊN/ TIÊN TỔ VỚI HÀM NGHĨA RẤT RỘNG!

Tuy điều này xét theo bối cảnh ngày nay chúng ta vẫn CẦN TÔN TRỌNG ĐỀN THỜ HỒ HƯNG DẬT Ở VÙNG BÀO ĐỘT/ NGỌC SƠN HIỆN NAY (trên nền đền vua Hồ) LÀ BIỂU TRƯNG CHO CẢ VÙNG ĐẤT TỔ CHÂU DIỄN XƯA! Đứng ở châu Ái thì càng đúng với Hồ Quý Ly!

Nhưng hương Bàu Trạch hay hương Bào Đột: phạm vi địa lý hành chính, dù khó vẫn phải vẫn cần nghiên cứu thêm!

Cò ngay như Hồ Tất Tố cháu đời 29 cho rằng: “cụ Hồ Quý Ly chọn trang Bào Đột làm đất khởi tổ”  (trích theo sách HHVNCNPT, 2020, tr.31) cũng nên nghiên cứu kỹ và sâu hơn cho thuyết phục! Liệu chứng minh như sách HHVNCNPT đã thuyết phục chưa?

Gốc Tổ họ Hồ VN ở Bào Đột / Ngọc Sơn hay ở Quỳ Lăng xưa, vùng Yên Thành nay đều phải được nghiên cứu kỹ và được phản biện, thảo luận sâu hơn, chứng minh một cách khoa học, thuyết phục hơn (Cái gì có lý và cái gì chưa có lý, phi lý)?

(12-22/12/2025- HBT)

VI. BÌNH LUẬN CỦA NHÀ HÁN NÔM THÁI HUY BÍCH (THB):

“Bài viết có căn cứ sử liệu uyên thâm, rất thuyểt phục. Vế 2 của câu đối (“Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích/ Bào Sảo giang sơn vạn đại từ”), cho thấy địa danh BÀO SẢO, chưa chắc chắn. Vì không có chữ HÁN NÔM nên biết đâu người trước đã đọc nhầm. Trong Gia phả họ Hồ QĐ, chữ BÀU ĐỘT, chữ Nôm, đã bị nhầm là BÀO ĐỘT, chữ Hán (là điều cần phải xem xét)/ (Vinh ngày 15/12/2025).

Tức dịch chuyển chú thêm bên chữ Bàu Trạch là Bào Đột? Tam sao thất bản hay nhầm lẫn?

THB: Bàu Đột (泡 突-chữ Nôm “đột” có thêm bộ thủy nữa, mà chữ Hán thì “đột không có bộ thủy). Có gia phả chép Bàu Trạch, có gia phả chép Bàu Đột. Bây giờ nhiều sách viết là Bào Đột. Vế 2 câu đối trong bài viết trên chép là Bào Sảo. Chữ Sảo thì không rõ nguyên bản gốc chữ, còn chữ Bào thì tôi đoán là BÀU. Cũng chỉ đoán thôi, vì không có chữ Hán hay Hán Nôm trên bản gốc xưa thì không chắc.

(15/12/2025)

HBT:Trên đây là ý kiến đa chiều (như các giả thuyết/ thiết) nêu lên để thảo luận theo tinh thần khoa học, tinh thần dân chủ, minh bạch! Vấn đề rất khó, phúc tạp, nhạy cảm không nên áp đặt! Kinh nghiệm là càng nghiên cứu bài bản và thảo luận thân tình, khoa học thì sẽ ngày càng sáng tỏ thêm!

PHỤ LỤC

CHỮ “SÀO” HAY “SẢO” (BÀO SẢO) TRONG CÂU ĐỐI (THEO TRA CỨU CỦA HXA)

Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích

Bào Sảo giang sơn vạn đại từ”

HMC: có lúc dùng chữ sào (dáu huyền)

I- Âm “sảo” (dấu hỏi) hay  âm là “sào” (dấu huyền):   sào   Âm Nôm: sào. Độ thông dụng trong Hán ngữ cổ: cao. Độ thông dụng trong tiếng Trung hiện đại: cao

Âm đọc khác Âm Hán Việt: sào

Dị thể 4

𤔥

  sào

Từ điển phổ thông

tổ chim, ổ

Từ điển trích dẫn

1. (Danh) Tổ, ổ (chim, côn trùng). ◎Như: “điểu sào”  tổ chim, “phong sào”  tổ ong.
2. (Danh) Chỗ ở. ◎Như: “tặc sào”  ổ giặc, “sào huyệt”  hang tổ giặc.
3. (Danh) Một nhạc khí, giống như cái sênh (“sanh” ).
4. (Danh) Họ “Sào”.
5. (Động) Làm tổ. ◇Tả truyện : “Hữu cù dục lai sào”  (Chiêu Công nhị thập ngũ niên ) Có chim yểng lại làm tổ.

Từ điển Thiều Chửu

① Tổ, tổ chim gọi là sào. Chỗ trộm cướp tụ họp gọi là tặc sào  ổ giặc, hay sào huyệt  hang tổ giặc, v.v.

Từ điển Trần Văn Chánh

① Ổ, hang ổ, tổ:  Ổ gian phỉ;  Tổ chim;
② (văn) Làm tổ:  Chim ri làm tổ ở rừng sâu, chẳng qua một cành (Trang tử).

Từ điển Nguyễn Quốc Hùng

Tổ chim — Làm tổ – Nơi ẩn náu của bọn bất lương.

Từ ghép 13

cưu cư thước sào 鳩居鵲巢 • ngoạ du sào thi văn tập 卧遊巢詩文集 • noãn sào 卵巢 • sào cư 巢居 • sào do 巢由 • sào huyệt 巢穴 • sào hứa 巢許 • sào nam 巢南 • sào phủ 巢父 • sào xa 巢車 • tặc sào 賊巢 • tinh sào 精巢 • yến sào 燕巢

II- Chữ có âm “sảo” trong câu đối có âm sảo (dấu hỏi).

TRA HÁN VIỆT Có 9 kết quả: 削 sảo • 吵 sảo • 搜 sảo • 潲 sảo • 燿 sảo • 睄 sảo • 稍 sảo • 謅 sảo • 诌 sảo    9/9

1.  sảo [tước]  

Từ điển Nguyễn Quốc Hùng

Đất cấp cho bậc đại phu thời cổ, bậc đại phu được hưởng hoa lợi, thuế má trên đất đó – Một âm khác là Tước.

2.  sảo [sao]  

Từ điển phổ thông

(xem: sảo náo )

Từ điển trích dẫn

1. (Động) Quấy rầy, quấy nhiễu. ◇Lão Xá : “Ngã đích đề khốc, sảo đắc tha bất năng an miên”  (Chánh hồng kì hạ ) Tiếng tôi kêu khóc, quấy rầy làm cho bà ấy không ngủ yên được.
2. (Động) Cãi nhau. ◎Như: “tranh sảo”  tranh cãi.
3. (Tính) Ồn ào, ầm ĩ. ◎Như: “xa thanh thái sảo”  tiếng xe cộ ầm ĩ quá.

Từ điển Thiều Chửu

① Sảo náo  nói rầm rĩ.

Từ điển Trần Văn Chánh

① Ồn ào, ầm ĩ, làm ồn:  Ồn đến nhức cả đầu;  Ngồi im mà nghe, đừng làm ồn lên;
② Cãi nhau:  Hai người cãi nhau;  Cãi nhau ầm ĩ.

Từ điển Nguyễn Quốc Hùng

Tiếng ồn ào – Tiếng xì xào – Cũng đọc Sao. Xem Sao.

3.   sảo [sưutiêu]  

Từ điển trích dẫn

1. (Động) Tìm kiếm. ◎Như: “sưu la”  tìm kiếm. ◇Liêu trai chí dị : “Dĩ nhi chủ nhân liễm tửu cụ, thiểu nhất tước, minh sưu bất đắc”  (Hồ giá nữ ) Xong xuôi, chủ nhân thu dọn bàn tiệc, thấy thiếu một cái chén, tìm khắp không ra. 2. (Động) Kiểm tra, kiểm điểm. ◎Như: “sưu thân”  kiểm soát trên người (có mang vật gì nguy hiểm hoặc phạm pháp). ◇Tây sương kí 西: “Bất khẳng sưu tự kỉ cuồng vi, chỉ đãi yêu mịch biệt nhân phá trán”  (Đệ tam bổn , Đệ nhị chiết) Không chịu kiểm điểm là mình dại dột, mà chỉ muốn kiếm ra khuyết điểm sơ hở của người khác.

Từ điển Thiều Chửu

① Tìm tòi, như sưu la  tìm tòi, lục lọi, sưu kiểm  tìm soát.
② Róc lấy, bóc lột, như sưu quát  quan lại bóc lột của dân.
③ Tìm nghĩ, như sưu sách khô tràng  hết sức tìm tòi suy nghĩ (nặn ruột mà nghĩ).
④ Một âm là sảo. Rối loạn.

Từ điển Nguyễn Quốc Hùng

Quấy rối – Các âm khác là Sưu, Tiêu. Xem các âm này.

4.   sảo  

Từ điển phổ thông

1. giọt mưa bị gió thổi tạt rơi nghiêng xuống

2. rưới nước, vẩy nước

3. thức ăn nuôi lợn đã nấu chín

Từ điển Trần Văn Chánh

① Giọt mưa bị gió thổi tạt rơi nghiêng xuống:  Nước mưa rơi tạt về hướng đông;

                    ② Rưới (vẩy) nước;

                    ③ (đph) Thức ăn nuôi heo đã nấu chín.

5.   sảo [diệu]  

Từ điển Nguyễn Quốc Hùng

Nhỏ bé. Ít ỏi — Một âm là Diệu. Xem Diệu.

6.    sảo  

Từ điển Nguyễn Quốc Hùng

Nhìn he hé.

7.   sảo [sao]  

Từ điển phổ thông

chút ít, hơi hơi

Từ điển trích dẫn

1. (Phó) Nhỏ, chút. ◎Như: “thỉnh sảo hậu”  xin đợi một chút. 2. (Phó) Hơi, khá, dần dần. ◎Như: “đạo lộ sảo viễn”  đường khá xa, “sảo sảo”  hơi hơi, “mã lực sảo phạp”  sức ngựa hơi yếu. 3. (Danh) Thóc kho. 4. (Danh) Tiền bạc. 5. (Danh) Nơi cách thành nhà vua 300 dặm.
6. (Danh) Họ “Sảo”. 7. Một âm là “sao”. (Danh) Ngọn. ◎Như: “thảo sao”  ngọn cỏ. ◇Hồng Lâu Mộng : “Nhất cá đại hồ điệp phong tranh, quải tại trúc sảo thượng liễu”  (Đệ thất thập hồi) Có một cái diều con bướm lớn, mắc ở trên ngọn trúc.

Từ điển Thiều Chửu

① Chút, như sảo đa chút nhiều. Sảo sảo  hơi hơi, một ít thôi.
② Thóc kho.

③ Cách thành nhà vua 300 dặm gọi là sảo.

④ Một âm là sao. Ngọn, như thảo sao  ngọn cỏ.

Từ điển Trần Văn Chánh

sảo tức [shàoxi] Nghỉ (khẩu lệnh từ tư thế nghiêm chuyển sang tư chế nghỉ). Xem  [shao].

Từ điển Trần Văn Chánh

① Hơi, khá, chút, dần dần:  Hơi, một chút;  Hơi khác nhau;  Đường khá xa;  Cao hơn một nước. sảo sảo [shao shao] (văn) Dần dần, dần dà:  Lần lần lấn chiếm nó như tằm ăn rỗi (Chiến quốc sách); sảo vi [shaowei] Hơi, chút, chút ít (thường dùng với ):  Hôm nay người anh ấy có khá hơn một chút, có thể ngồi dậy làm việc được rồi;  Đề này dễ, chỉ cần suy nghĩ một chút là trả lời được;  sảo vi [shaowéi] Như  sảo hứa [shaoxư] Như ;

② (văn) Thóc kho;

③ (văn) Nơi cách thành vua 300 dặm;

④ (văn) Ngọn (dùng như , bộ ):  Ngọn cỏ. Xem  [shào].

Từ điển Nguyễn Quốc Hùng

Nhỏ bé – Ít ỏi – Hơi hơi. Một chút – Dần dần – Vùng đất ở xa kinh đô 300 dặm.

8.    sảo [sưuxảo]  

Từ điển trích dẫn

1. (Động) Đặt điều, nói bậy, nói càn, hồ thuyết. ◎Như: “hạt sưu”  đặt điều nói bừa, nói chuyện không đích xác. ◇Hồng Lâu Mộng : “Xuất cá đề mục, nhượng ngã sưu khứ, sưu liễu lai, thế ngã cải chánh”  (Đệ tứ thập bát hồi) Xin ra đầu đề (thơ), cho em về làm đại, làm xong, nhờ sửa giùm em.
2. Một âm là “sảo”. (Động) Tranh cãi. ◇Chu Tử ngữ loại : “Quang tính cương, tuy tạm khuất, chung thị bất cam, toại dữ Tần Cối sảo”  (Quyển nhất tam nhất) Lí Quang tính cứng cỏi, dù tạm khuất phục, rốt cuộc không chịu nhịn, bèn tranh cãi với Tần Cối.

Từ điển Thiều Chửu

① Bảo nhỏ, bỏ nhỏ.

② Một âm là sảo. Nói đùa.

Từ điển Trần Văn Chánh

① (Nói) bậy, càn, láo:  Nói bậy (láo);  Nói càn;

② (văn) Bảo nhỏ, bỏ nhỏ.

9.   sảo [sưu]  

Từ điển trích dẫn

1. Giản thể của chữ .

Từ điển Trần Văn Chánh

① (Nói) bậy, càn, láo:  Nói bậy (láo);  Nói càn;
② (văn) Bảo nhỏ, bỏ nhỏ.

Từ điển Trần Văn Chánh

Như 

TRA NÔM:     Có 4 kết quả:  吵 sảo • 稍 sảo • 謅 sảo • 诌 sảo   4/4

1.    sảo [saothểu]  

Từ điển Viện Hán Nôm

sắc sảo

2.    sảo [rảoxao]  

Từ điển Viện Hán Nôm

sắc sảo

3.   sảo [sưusạo]  

Từ điển Trần Văn Kiệm

sảo (nói đùa): hồ sảo (nói bậy)

4.    sảo [sưu]  

Từ điển Trần Văn Kiệm

sảo (nói đùa): hồ sảo (nói bậy)

(HỒ XUÂN ANH)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

The maximum upload file size: 64 MB. You can upload: image, audio, video, document, spreadsheet, interactive, text, archive, code, other. Links to YouTube, Facebook, Twitter and other services inserted in the comment text will be automatically embedded. Drop files here

Xem thêm