Hướng tới hội thảo khoa học lịch sử họ hồ – KHẢO LUẬN VỀ PHÁT TÍCH HỌ HỒ VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ THẾ THỨ TRUYỀN THỪA DÒNG TỘC


potal-nghe-an-kien-truc-co-doc-dao-cua-dinh-sung-o-mien-dat-lang-thanh-7805811.jpg

Vẻ đẹp nguyên sơ của Đình Sừng trải qua thăng trầm của thời gian và lịch sử

MỞ ĐẦU

Trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, mỗi dòng họ lớn không chỉ là một cộng đồng huyết thống, mà còn là một chủ thể văn hóa – lịch sử, góp phần hình thành và bồi đắp bản sắc quốc gia qua nhiều thế hệ. Họ Hồ là một trong những dòng họ như vậy, với quá trình hiện diện lâu dài, không gian cư trú rộng, cùng dấu ấn sâu đậm trên nhiều lĩnh vực chính trị, quân sự, văn hóa và khoa bảng.

Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề phát tích họ Hồ Việt Nam cũng như thế thứ truyền thừa giữa các chi phái, trong giới nghiên cứu và trong nội bộ dòng họ hiện nay vẫn còn tồn tại những dị biệt trong cách tiếp cận, nhận định và diễn giải tư liệu lịch sử – gia phả. Một số vấn đề cốt lõi như không gian phát tích ban đầu, quá trình định cư sớm, cũng như mối quan hệ thế hệ giữa các nhân vật lịch sử tiêu biểu của dòng họ, vẫn cần tiếp tục được khảo cứu một cách hệ thống, khách quan và thận trọng.

Bài viết này, trong tinh thần tôn trọng sử liệu, đối chiếu gia phả và vận dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, xin góp một số nhận định bước đầu nhằm làm rõ hơn nơi phát tích của họ Hồ Việt Nam, đồng thời trao đổi về vấn đề thế thứ dòng họ như một cơ sở khoa học phục vụ công tác nghiên cứu, hội thảo và biên soạn lịch sử họ Hồ trong thời gian tới.

I. NƠI PHÁT TÍCH HỌ HỒ VIỆT NAM

Trạng nguyên Hồ Hưng Dật vốn người Ngô Việt ở Chiết Giang đến Lạc Việt, thuộc dòng Bách Việt, vào khoảng năm 907, có thuyết nói khoảng năm 923-924 (hoặc năm 931-932), lập nghiệp rồi ra làm quan:

Theo lịch sử họ Hồ đại tộc Tam Công[1] – Cội nguồn gốc tổ họ Hồ Việt Nam (LS HHĐTTC), chép theo ĐVSKTT “Hồ Hưng Dật vốn người Ngô Việt ở Chiết Giang, đời Hậu Hán Ngũ Quý sang làm Thái Thú (thứ sử) Châu Diễn, sau nhà ở Hương Bào Đột (Hương Bàu Trạch), châu ấy rồi làm Trại chủ”.

Theo lịch sử nhà Đinh: “Khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi Hoàng đế đã phong ông Hồ Hưng Dật làm Trấn thủ Châu Hoan (Nghệ Tĩnh ngày nay). Ông Hồ Hưng Dật là một trong số 267 dũng tướng nhà Đinh (Danh sách thứ tự 6, vần H), lập nhiều công giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân”.

Theo Hồ Tông thế phả[2] (HTTP), Chép: “Ông Hồ Hưng Dật sau khi thôi quan về ở Hương Bàu Trạch”

Họ Hồ Việt Nam trải qua gần 1.100 năm, do thăng trầm lịch sử, biến động xã hội, nên nhiều tư liệu, sử phả chi phái bị thất lạc, rách hỏng (vì thiên tai, địch họa), nên có khoảng 300 năm (10 đời) khuyết phả. Đến đầu thế kỷ XV khi Hồ Quý Ly (đời thứ 15) lên ngôi Hoàng đế thì phả hệ họ Hồ mới được ghi chép vào Quốc sử: Hồ Liêm đời thứ 12, chi phái Thanh Hóa, Hồ Kha đời thứ 13, chi phái Nghệ An.

Khoảng năm 1660, Đông các Đại học sỹ Thượng thư Duệ Quận công Hồ sỹ Dương (đời 22) khởi biên “Hồ tộc gia phả thực lục” tiếp sau các con cháu: Tham nghị Hồ Sỹ Tông, Tiến Sỹ Hồ Sỹ Tân, Tiến sỹ Quận công Hồ Sỹ Đống bổ sung liệt kê thế thứ danh tự, biên soạn thành “Hồ Tông thế phả”. Đến nay nhiều tư liệu, gia phả do sao chép, “ghi thêm”, “chỉnh sửa” nên nhiều tư liệu, sử phả vênh “sai lệch” quá lớn, không phù hợp với lịch sử quốc gia và sử phả dòng họ.

Năm 2019, Nhóm nghiên cứu độc lập về lịch sử họ Hồ Việt Nam (NNC LS HH VN) gồm có giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu sử và nhà khoa học, cùng Hội đồng gia tộc Hồ đại tộc Tam Công (HĐGT), đã tổ chức khảo sát, nghiên cứu các tư liệu lịch sử quốc gia, các địa phương. Dịch thuật trên 10 bộ gia phả cổ, tư liệu cổ các chi họ, dòng họ. Tổ chức nhiều đợt điền giả, khảo sát thực tế các di tích, chứng tích, đình, đền, miếu thờ, bia cổ, các địa danh ghi dấu tích liên quan đến họ Hồ từ thế kỷ X đến thế kỉ XIV ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, Thái Bình, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hải Dương, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định, thành phố Hồ Chí Minh, các Thư viện, Bảo tàng lịch sử Trung ương và địa phương.

Qua nhiều đợt khảo sát, nghiên cứu trong 5 năm (2019- 2023), tổ chức thảo luận, hội nghị đàm luận trực tiếp, trực tuyến, đối chiếu so sánh tư liệu, gia phả cổ, minh bia cổ, triều đại, độ tuổi với chứng tích, di tích lịch sử, thực tế, minh bạch, khách quan lôgíc khoa học.

Đã phát lộ nhiều chứng cứ, chứng tích có giá trị về lịch sử và sử phả dòng họ Hồ, như: Nơi phát tích gốc tổ họ Hồ Việt Nam, Lỵ sở Châu Diễn, thế thứ dòng họ và đại diện 10 đời thất phả v.v…Có lý luận vững chắc giải thích được những tồn nghi từ hàng trăm năm nay về sử phả Hồ tộc mù mờ ẩn khuất, sáng tỏ sự thật sử phả dòng họ, cụ thể như sau:

Khảo sát ở Quỳ Lăng, hương Bàu Trạch, tổng Quỳ Trạch xưa, huyện Yên Thành ngày nay

1. Những căn cứ lịch sử chứng minh

Vùng lõi nơi phát tích họ Hồ linh thiêng gồm các xã Lăng Thành, Mã Thành, Thọ Thành. Đến nay vẫn còn nguyên giá trị lịch sử như sau:

– Nơi phát tích họ Hồ Việt Nam Theo Hồ Tông thế phả ghi: “Sau khi thôi quan ông Hồ Hưng Dật về ở Hương Bàu Trạch”

– Theo cuốn “Quỳ Trạch tổng biên” của TS Trần Đình Phong, 1885 ghi: “Sau khi thôi quan Ngài (Hồ Hưng Dật) lui về vùng đất Ngũ Bàu: Bàu Gia, Bàu Sàng, Bàu Canh, Bàu Sừng và Bàu Diệu Ốc, là nơi có Trị sở làm việc của Ngài. Tất cả các nơi này đều có Miếu và Đền thờ Ngài”.

– Hương Bàu Trạch xưa gồm có cư dân ở vùng: Ngũ Bàu Hồ (5 bàu) nguồn nước từ “ngũ khe Hồ” trên dãy núi Kê Gà chảy về tự nhiên quanh năm, là: Bàu Sừng chảy về xã LăngThành (Nam), Bàu Sàng chảy về 2 xã Đức Thành, Thọ Thành (Đông Bắc), Bàu Canh chảy về xã Mã Thành (Đông Nam), Bàu Gia chảy về xã Tân Thành (Bắc), thuộc huyện Đông Thành, tổng Quỳ Trạch. Xưa còn có: Kẻ Sừng, Kẻ Cuồi, Kẻ Sàng, Kẻ Đót, nay gồm các xã: Lăng Thành, Mã Thành, Tiến Thành (Kẻ Sừng), Thọ Thành (Kẻ Cuồi), Đức Thành, Tân Thành (Kẻ Sàng), Phú Thành và Hồng Thành (Kẻ Đót). Nay thuộc huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

– Trạng nguyên Hồ Hưng Dật được vua ban cho vùng đất Lỵ sở Châu Diễn (Nghệ An), Hương Bàu Trạch, tổng Quỳ Trạch (Yên Thành), vùng đất Trang trại Tiên sinh họ Hồ (Tiên sinh ồ ồ) từ Quỳ Trạch – Yên Thành lên đến Nghĩa liệt, Nghĩa Đàn – dân gian truyền tụng đến ngày nay: Hồ gia hợp tộc phả ký[3] – (HG HTPK) chép:

“Quyết sơ cổ tích/ …Thủ Diễn Châu cương/ Nhi tôn nhật sản/ Gia tại bản phương/ Ngã tộc chi phái/ Do thử phát trương/ Trung gian kỷ thế/ Lậu tích bất tường/ Chí tư cận thế/ Di tích nơi chương/ Tộc Quỳ Trạch ấp/ Quán Tiên Sinh hương …”

– Lịch sử xã Mã Thành (trang 8, dòng 8 tx), ghi: “Sử cũ chép lại, khi Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, quê Chiết Giang (Ngô Việt – tg), được cử sang làm Tri châu của Châu Diễn (có tư liệu viết thời Ngũ Đại 907-960, có tài liệu viết thời Hậu Đường 923-938). Khi Hồ Hưng Dật mất, chức Tri châu được truyền lại cho con cháu kế thế, hậu duệ của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật đã chọn vùng đất phía Bắc làng Quỳ Lăng, Yên Mã để an táng vị Thần tổ ở đây. Bà con thường gọi là Tiên Sinh ồ ồ. Nay vùng đất ấy gọi là Mã Tổ, nằm trên vùng đất phía Bắc của hai xã Mã Thành và Tân Thành”.

Di tích Đình Sừng nằm giữa cánh đồng lúa Quỳ Lăng, xa xưa là đất của cụ Hồ Hưng Dật

2. Ngôi đền to, đẹp, uy nghi nhất làng để thờ phụng ông. Đền này nằm trên một ngọn núi của làng Quỳ Lăng, đền có các tên gọi: “Đền đệ nhị”, “Đền trung đẳng”

Đến năm 1797, do nhu cầu văn hóa tâm linh cao, ngôi đền thờ phụng ông, đã không đủ chỗ cho dân làng làm lễ trong các dịp lễ trọng nên làng đã xây dựng thêm tòa hậu cung ở Đình Sừng để làm nơi bài trí thờ phụng ông cùng với Thần Cao Sơn, từ đó cứ vào dịp lễ Kỳ Yên (15/3 âl hàng năm), làng lại tổ chức lễ lớn tại Đình Sừng, trong các dịp lễ này, làng đều có lễ rước từ đình về đền thờ ông cúng bái, rồi lại rước từ đền trở về đình”. Đây là phát hiện mới rất quan trọng!

Đền trung đẳng thờ Hồ Hưng Dật, cạnh ngôi mộ cổ tương truyền là mộ trạng nguyên Hồ Hưng Dật trên Rú Quan, thuộc xã Lăng Thành, Yên Thành, năm 1971 bị tháo dỡ. Sau đó san lấp xây dựng trụ sở UBND, sân vận động xã. Khi đền chưa được phục dựng lại, UBND xã Lăng Thành đã rước bát hương vào Nhà Văn hóa lập bàn thờ Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, bảo quản phần gỗ đền thờ cũ sau lưng nhà ủy ban, nay vẫn còn.

Nhà thờ Hồ Đại tộc Tam Công: Là nhà thờ gốc tổ họ Hồ Việt Nam lâu đời nhất (trước năm 1314, cụ thể là năm nào không rõ nhưng đến năm 1341 Hồ Tông Thốc tu tạo được ghi trong sử sách) ở làng Cuồi, thôn Tam Công (Tam Thọ), xã Thọ Thành truyền đời từ ngàn năm thờ Đức Thủy Tổ Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, Thuỷ tổ 10 đời thất phả, các bậc tiên linh và ba vị Trạng nguyên hậu duệ của Ngài. Giỗ ngày 26/3 AL hàng năm. Nhà thờ được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia (1991).

Năm 2017 được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch thực hiện Dự án đầu tư 49 tỷ đồng đại trùng tu tôn tạo và mở rộng khuôn viên nhà thờ. Năm 2022, khởi tạo Thập bát lăng, lập khu lăng mộ gió của Đức Thủy tổ Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, 10 đời thất phả, vua Hồ Quý Ly, vua Quang Trung- Hồ Thơm; mộ Hồ Kha, Hồ Cao, Hồ Đình Trụ (Đình Quế). Đồng thời ,cải tạo nâng cấp 3 lăng mộ Trạng nguyên Hồ Tông Thốc, Trạng nguyên Hồ Tông Đốn, Trạng nguyên Hồ Tông Thành, trong khuôn viên nhà thờ và hồ phong thủy.

Nhiều địa danh mang dấu tích lịch sử: liên quan đến thời Hồ Hưng Dật thế kỷ 10, như ở hương Bầu Trạch, tổng Quỳ Trạch xưa, Lăng Thành, Yên Thành nay: Có 3 cánh đồng gắn với tên tuổi Hồ Hưng Dật: “Đồng Hồ”, “Đồng Tổ Hồ”, “Đồng Tô Lô”, Ngũ bàu Hồ (bàu Cuồi, bàu Sừng, bàu Canh, bàu Sàng, bàu Diệu Ốc), Ngũ khe Hồ, 4 bãi tập Hồ (Bộ, Võ, Thủy chiến), đường quan, cầu quan …

3. Những nhầm lẫn dẫn đến sai lầm lịch sử, phả hệ

a. Chỉnh sửa, dịch thuật nhầm lẫn: Do Hồ Tông Thế Phả[4] (trang 127, dòng 5 phải sang) nguyên bản là “HƯƠNG BÀU TRẠCH” vì ai đã viết thêm chữ “ĐỘT” (nhỏ) vào bên cạnh chữ “TRẠCH” (chính câu). Để dịch thành “Hương Bào Đột” là sai chữ “Bàu” thành “Bào”, “Trạch” thành “Đột”, sai cả nghĩa và sai cả địa danh thực tế:

Trong tiếng Việt âm “trạch” chỉ có 1 cách viết “trạch” duy nhất (rồi ai muốn hiểu thế nào thì hiểu); còn trong tiếng Hán thì 1 âm “trạch” có đến 6 chữ trạch khác nhau (mỗi chữ đều có nghĩa riêng cụ thể của nó), trong đó có 2 chữ mà ta quan tâm (擇 trạch = chọn lựa; và 澤 trạch = hồ trạch, ao, hồ), 2 chữ này chỉ khác nhau bộ “thủ”扌(là tay, ý nói cầm, nắm) và bộ “thủy” 氵 (là nước, ý nói ao hồ, vũng nước) mà thôi. Trong Hồ Tông thế phả dùng chữ trạch 澤 có bộ “thủy氵là ao hồ”. Khi mà bộ thủ (gồm một và nhiều người) chưa phân biệt được bộ “thủ”扌 và bộ “thủy”氵(cũng có 3 nét như nhau). Còn “Bào” nghĩa là giọt nước, giọt nước không thể là bàu được!

Theo TS Nguyễn Hữu Tâm nguyên giám đốc thư viện, Viện Lịch sử VN đã xem trang có chữ Hán đó và nói: “Khi phiên dịch cần phải tôn trọng nguyên tác, ở đây cần phải dịch “Hương Bàu Trạch”, sau đó có thể chú thích: người đọc sau có thể đã viết thêm chữ 涋(phiên âm là Thốc, nếu là chữ Nôm có thể đọc là Đột) thì khoa học hơn! Hoặc có thể tiến hành giám định xác định chữ viết thêm là được sửa ngay hay người đọc sau thêm vào! Như vậy sẽ không có những thắc mắc không đáng có và tôn trọng nguyên văn!”

Hơn nữa xem văn bản gốc và bản dịch thì Trạng nguyên Hồ Hưng Dật “lưu lại hương Bàu Trạch”, tức là nhà đã ở đó từ lâu, chứ không phải “chuyển nhà về hương Bàu Trạch ” (“lui về hương Bào Đột” hơn nữa lại dịch là làng Bào Đột chứ không phải hương) như sách HHVNCN&PT viết và bản này còn ghi ông Hồ Hưng Dật “là nho thần, làm Thái thú Châu Diễn” chứ không phải được nhà Hậu Ngô “cử làm”, “được trọng dụng”… như sách HHVNCN&PT (tr.23, 26, 29)! ‘ Trưởng ban Sử họ Hồ VN cho rằng: “Hồ Tông thế phả”, “Hồ gia phả ký”, “Hồ gia hợp tộc phả ký” là văn bản cổ đã “hóa thạch”, nhưng hóa ra qua người biên dịch và người viết sử đã “diễn dịch” nên mới trở thành “hóa lỏng”! Sai lệch rất nghiêm trọng cần phải chỉnh sửa theo nguyên bản gốc.

b. Nhầm lẫn địa danh lịch sử: Ở Bào Đột không có “Ngũ Bàu”, Ngũ Bàu ở Quỳ Trạch (Yên Thành), còn Ngọc Sơn (Quỳnh Lưu) chỉ có 5 thôn Ngũ Bào và thôn Bào Đột, sau 400 năm (1402- tk15) Vua Hồ Quý Ly sai Hồ Hán Thương xây miếu thờ Tổ tiên, sau khi hai vua mất thì người dân rước vào miếu thờ nên thường gọi là “Miếu Hồ vương” rồi “Đền vua hồ”. Đến năm 2014 mới phục dựng Đền vua Hồ, rồi Ban liên lạc HHVN đổi thành Đền thờ Hồ Hưng Dật. Năm 2022 xây thêm lăng mộ vọng Hồ Hưng Dật (mộ gió) trên sườn núi.

c. Năm 1998, Ban liên lạc họ Hồ Việt Nam (BLLHH VN) khóa 1 được thành lập. Đến 14h chiều 26/2/1999 (tức 11/ giêng năm Kỷ Mão), tổ chức họp các chi phái họ Hồ tại UBND xã Quỳnh Đôi, dưới sự chủ trì của ông Hồ Cơ trưởng BLLHH toàn quốc. Nội dung bàn: Xây dựng nhà bia Đức Thủy tổ Trạng nguyên Hồ Hưng Dật tại nhà thờ họ Hồ hợp tộc Quỳnh Đôi. Kết quả, tất cả các chi phái họ Hồ tham gia cuộc họp đều không nhất trí việc xây dựng nhà bia Đức Thủy tổ tại nhà thờ họ Hồ Quỳnh Đôi – vì ở đây không phải là gốc tổ.

Theo “An Tĩnh xưa” (tlđd trang 29,30) của nhà nghiên cứu lịch sử người Pháp HLEBRETON nói: “Ông Hồ Hưng Dật không liên quan gì tới ngọn đồi Bào Đột”. “Vùng Nghĩa Đàn, Bào Đột, Ngọc Sơn, Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu) từ thế kỷ 10 đến nay không có dấu tích gì về Hồ Hưng Dật”.

Nói Bào Đột[5] là gốc Tổ, là linh địa họ Hồ Việt Nam là sai sự thật lịch sử và sử phả dòng họ, thiếu trung thực, khách quan. Gây nghi ngờ hoang mang mất lòng tin của con cháu dòng họ.

II. LỴ SỞ CHÂU DIỄN

Lỵ sở Châu Diễn xưa (Nghệ An ngày nay) đóng tại Quỳ Lăng xưa (xã Lăng Thành, huyện Yên Thành ngày nay). Nơi trị sở của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật Thứ sử Châu Diễn (Nghệ An), Trấn thủ Châu Hoan (Nghệ Tĩnh) (thế kỷ 10)

– Theo “Lý lịch di tích Đình Sừng”[6]: “Lúc bấy giờ (679), đã chọn làm nơi đóng trị sở của Châu Diễn và cũng từ đó cho đến hết Triều đại nhà Đinh (979), liên tục trong 3 thế kỷ, trị sở của Châu Diễn luôn đóng tại Kẻ Sừng, cho đến năm 980 – năm đầu tiên của triều tiền Lê, Trị sở của Châu Diễn mới chuyển từ Kẻ Sừng (LăngThành nay) đến Kẻ Dền, Công Trung thượng (nay thuộc xã Văn Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An).

– Theo “Lịch sử Đảng bộ huyện Nghĩa Đàn[7] (LSĐBNĐ) ghi: “Năm 679, nhà Đường chia vùng Nghệ – Tĩnh thành 2 châu là Diễn Châu và Hoan Châu. Diễn Châu đóng Lỵ sở ở Quỳ Lăng (nay thuộc xã LăngThành)”. Như vậy chính lịch sử huyện Nghĩa Đàn đã phủ nhận và khẳng định Lỵ sở Châu Diễn chưa bao giờ đóng ở vùng Tiên sinh Nghĩa Đàn.

– Theo cuốn “An Tĩnh cổ lục”, trang 81, dòng 2 dl, được dẫn chứng trong cuốn “Họ Hồ Việt Nam, cội nguồn và phát triển” (XB lần 1, NXB KHXH – 2020, trang 20, dòng 17 tx), chép: “Thái thú lúc đó là Hồ Hưng Dật. Toàn bộ xứ Châu Diễn là lãnh địa của ông (Hồ Hưng Dật). Trụ sở đặt tại trại Tiên Sinh, trong vùng đồi núi phía Tây, vì hồi đó Châu Diễn đại bộ phận còn là vùng biển. Tiên Sinh nằm ở khoảng trung độ giữa Ga Yên Lý và huyện Nghĩa Hưng ngày nay”.

Vậy “trung độ” là điểm giữa ga Yên Lý và huyện Nghĩa Hưng là đúng ở đất Tiên Sinh Quỳ Trạch (dưới chân dãy núi Kê Gà). Quỳ Lăng chính là trị sở Châu Diễn. Đúng là “trung độ” điểm giữa 2 địa danh nói trên. Lại càng đúng với “Lịch sử di tích Đền Sừng” ở Lăng Thành. Đọc kỹ lại đoạn văn này, sách “An Tĩnh cổ lục” miêu tả về Trị sở Châu Diễn rất đúng, nhưng Chủ biên lại hiểu sai nên đặt dẫn chứng sai vị trí. Vì rằng: sách An Tĩnh cổ lục không nói Trị sở Châu Diễn tại Nghĩa Hưng. {Là chỉ khoảng cách từ điểm ga Yên Lý (mốc 1) đến điểm Nghĩa Hưng (mốc 2), điểm giữa khoảng trung độ của 2 mốc đó là Trị sở Châu Diễn là đúng đất Tiên Sinh Quỳ Trạch}. Chủ biên cũng không biết vùng Tiên Sinh xuất xứ từ vùng Quỳ Trạch nơi lập nghiệp đầu tiên và đến cuối đời của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật.

Nhưng Chủ biên cuốn “Họ Hồ Việt Nam, cội nguồn và phát triễn”, chưa đi khảo sát thực địa lỵ sở Châu Diễn ở Quỳ Lăng xưa, chưa tìm hiểu nghiên cứu lịch sử địa phương và đọc kỹ “đoạn văn dẫn chứng”, đã nhầm tưởng Trị sở Châu Diễn là đóng ở Tiên Sinh Nghĩa Đàn. Là sai lầm lớn về sử phả dòng họ và lịch sử quốc gia.

Còn nữa, Chủ biên lại dẫn chứng sách “Vân Đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn, rằng: “Lỵ sở Diễn Châu các thế kỷ VI, VII, VIII đóng tại Quỳ Trạch (nay là xã LăngThành, Yên Thành, Nghệ An), từ thế kỷ thứ IX trở đi dời về Phủ Quỳ, tiếp tục đời đến Tiên Sinh (?). Vào giữa thế kỷ thứ X, khi Trạng nguyên Hồ Hưng Dật làm Thái thú lộ Diễn Châu thì Lỵ sở đóng tại Tiên Sinh” (?). Là sai lịch sử Quốc gia, địa phương và sử phả chi phái dòng họ, không đúng với “Lý lịch đi tích Đền Sừng”. Đồng thời Nhóm NCLSHHVN đã tra cứu lại “Vân Đài loại ngữ” cũng không thấy nói về điều đó. Không biết tác giả lấy đoạn này ở đâu?

Nói Lỵ sở Châu Diễn ở tiên sinh Nghĩa Đàn là sai lịch sử, và sử phả dòng họ, làm “mờ lịch sử”.

III. VỀ THẾ THỨ DÒNG HỌ

Bản sơ đồ tông mạch của Hồ Bá Hiền viết (trang 101, quyển I, phả hệ họ Hồ VN)

Hiện nay có 3 tồn nghi:

(a) “Hồ Cao sinh Hồ Hồng, ” (theo họ Hồ đại tộc Tam Công và họ Hồ Việt Thuận, Thái Bình …).

(b) “Hồ Cao là anh Hồ Hồng ( theo Hồ gia hợp tộc phả ký).

(c) “Hồ Cao là em Hồng (vì theo họ Hồ Quỳnh Đôi: “Hồ Kha sinh 1325, Hồ Hồng sinh 1358 là anh Hồ Cao sinh 1360”.

Theo gia phả họ Hồ đại tôn Thuận An Thái Bình[8] (HH ĐTTATB) (chép từ gia phả Hồ tộc Quỳnh Đôi, nói rằng: “Hồ Kha công (cháu 12 đời Thái thú công) ông sinh vào triều Trần Minh Tông, kỷ nguyên Khai thái, khi lớn lên từ Thổ Thành, xã Quỳ Trạch chuyển cư đến huyện Quỳnh lưu, Tổng Đường Khê, xã Quỳ Trạch ?, thôn Nghĩa Liệt, sau chuyển xuống xã Hoàn Hậu ở trang Thổ Đôi, bà cụ tính danh bất tường. Ông sinh hai con trai trưởng Hồ Hồng, thứ là Hồ Cao. Ông Hồng theo ông ở Hoàn Hậu làm cụ tổ bản tộc, ông Cao trở về Quỳ Trạch làm bản chị thứ hai”.

Tồn nghi (a) đã phát lộ nhiều chứng cứ tin cậy có cơ sở thực tế khách quan khoa học, theo gia phả cổ Hán Nôm họ Hồ đại tôn thôn Thuận An (Thái Bình) trang 73, dịch nghĩa là:

“Nhưng xét hai gia phả của Thượng thư và Tư khoa trường thư biên, cụ Tham nghị công đều nói rằng: Hồ Kha sinh ra Hồ Cao, Hồ Cao sinh ra Hồ Hồng, nay lấy ông Cao làm em ông Hồng chưa biết ai đúng”. “Chánh Đội trưởng Hồ Công tự Thiện Phúc, húy Hồng, chính thất hiệu Từ Tín không rõ tính danh”.

Vậy, theo ngữ pháp thì: “Vế đầu” là cụ Thượng thư và Tham nghị đều nói: Hồ Kha sinh Hồ Cao, Hồ Cao sinh Hồ Hồng, Hồ Hồng sinh Hồ Hân – Là mang tính “Khẳng định”. Còn vế sau “nay lấy ông Cao làm em ông Hồng chưa biết ai đúng?” là mang tính truy xét của người đang chép sử thấy trái ngang nên đặt sự “nghi vấn”. Vậy “nay” ai mà dám nói sai với tiền bối!?

Theo Lịch sử Hồ đại tộc Tam Công[9], cụ Hồ Cao sinh Trạng nguyên Hồ Tông Thốc đã chép: “Trạng nguyên Hồ Tông Thốc: Sắc phong: Trần triều Trạng nguyên Trung thư tả phủ úy chi Thần, Thành Thái thứ 13 năm 1901. ‘ Cụ sinh năm Giáp Tý (1324), đời vua Trần Minh Tông, tự Giác Thiết hiệu Động Đình. Năm Khai Hựu thứ 13 (1341) vua Trần Hiến Tông cụ đăng khoa Trạng nguyên, do tuổi còn nhỏ (17 tuổi) nên được nhà vua phong cho 4 chữ Trạng nguyên cập đệ. Cụ là người tài giỏi được nhà Trần phong đến chức Hàn lâm viện Đại học sỹ nhị thập hành Trung thư Xá nhân, Thái phó Đường Quận công”.

Trạng nguyên Hồ Thông Thốc soạn 3 văn bia ở Bắc Ninh, Ninh Bình, Thái Bình còn lưu truyền đến ngày nay là:

* Minh bia cổ Chùa Phổ Thành: hương Ngâm Điền, xã Lãng Ngâm, Gia Binh, Bắc Ninh: “Ngày 5/7 năm Bính Ngọ (1366), niên hiệu Đại Trị thứ 9, Hồ Tông Thốc người xã Thổ Thành, giữ chức Triều thinh Đại Phú Đình úy Thiếu khanh, kiêm AN phủ sứ phủ lộ Thiên Trường soạn văn” (Đinh Mùi niên, Phụng Ngự Lê Ân viết chữ, Giám sinh Lê Trù khắc chữ).

* Minh bia cổ Chùa Đào: núi Non Nước,Ninh Bình: “Năm Xương Phù thứ 7, mồng 7 tháng Chạp, Quý Hợi (1383). Học sỹ Viện hàn lâm Hồ Tông Thốc là người Nghệ An soạn văn bia.

* Minh bia cổ Chùa Hà: hương Tịnh Cương, Thiên Thành Đồng, Hưng Hà, Thái Bình: “Ngày hạ tuần tháng 2, mùa Xuân Ất Sửu, niên hiệu Xương Phù 9 (1385).Hồ Tông Thốc, chức Quang lộc Đại phu Trung thư lệnh kiêm Hàn lâm học sỹ, phụng chỉ tứ kim ngự đại Thương hộ quân soạn văn bia (Chánh Chưởng Nguyễn Đình Giới viết chữ, Ngự tiền Nguyễn Thiên khắc chữ).

Căn cứ 3 minh bia cổ do Trạng nguyên Hồ Tông Thốc (1324) soạn văn bia còn để lại tại chùa Phổ Thành Bắc Ninh (1366) – lúc đó cụ 42 tuổi, chùa Đào núi Non nước, Ninh Bình (1383) – lúc cụ 59 tuổi, chùa Hà ở Hưng Hà Thái Bình (1385) – lúc cụ 61 tuổi. Là phù hợp với tuổi nhân vật lịch sử Trạng nguyên Hồ Tông Thốc.

Để phân tích giải mã 2 nghi vấn (b) và (c) làm rõ sự bất cập, sai lệch sử phả. Nay lấy hai nhân vật lịch sử được sử sách truyền lại là căn cứ tin cậy để minh chứng về tuổi có liên quan, như sau:

  1. Trạng nguyên Hồ Tông Thốc: (con Hồ Cao) sinh năm 1324, đỗ đại khoa Trạng nguyên 1341 (đỗ Trạng sớm lúc 17 tuổi), quy tiên năm 1404, hưởng thọ 81 tuổi.
  2. Hồ Hồng sinh 1358: Hồ Hồng sinh vào cuối đời Trần khoảng niên hiệu Đại Trị (1358-1369) đời Trần Dụ Tông. Ông hy sinh lúc còn trẻ (lúc khoảng 32 tuổi) khi chinh phạt quân Chiêm Thành ở phương Nam [Lần theo đvsktt, (trang 573-575) có ghi: “Canh Ngọ, Quang Thái năm thứ 3 (1390), mùa Xuân, tháng giêng, ngày 23, Đô đốc tướng Trần Khát Chân đại thắng quân Chiêm Thành ở Hải Triều, giết được Chúa nó là Chế Bồng Nga”. Vậy Hồ Hồng có thể tham gia đánh quân Chiêm Thành (1388-1390) và hy sinh ở vùng Tân Bình – Thuận Hóa].

* Về Hồ Thiện Tâm, tự Thiện Phúc, húy Hồng – tức Hồ Hồng: Sử phả các chi họ đều ghi nhận trùng hợp như sau:

– Theo lịch sử Hồ đại tộc Tam Công[10], Hồ Cao sinh 3 con trai:

Con trai trưởng Hồ Cử Nhân, thất truyền phả, không thấy ghi chép): Trai thứ Hồ TôngThốc, – Trai thứ Hồ Thiện Tính-tức Hồ Tông Chất, – Trai thứ Hồ Thiện Tâm “tự Phúc Thiện, húy Hồng” tức Hồ Hồng là em Hồ Tông Thốc, con thứ Hồ Cao.

– Theo: “gia phả họ Lê (Hồ) ở đội 4, xã Diễn Thắng, huyện Diễn Châu do ông Trưởng tộc Lê Tăng, tự Nhật Tiến về nhận họ Hồ ngày 27/11/1996 (tức ngày 17/10 Bính Thìn), ghi: Cụ Hồ Cao sinh các con là Hồ Tông Thốc, Hồ Thiện Tính, Hồ Thiện Tâm”

– Theo Hồ gia thế phả[11], chép: “Đời thứ nhất: Thủy tổ khảo Hồ Thiện Phúc công được ban sắc phong Dực Bảo trung hưng Linh Phù tôn Thần. Thủy tổ tỷ chính thất hiệu Từ Tín chân linh. Công húy là Hồng là trưởng tử của Hồ Kha, là anh của Hồ Cao, sinh vào niên hiệu Đại Trị đời Trần Dụ Tông”.

“Đời thứ hai: Khảo là Ngoại trực ty Xá Nhân kiêm Sao trưởng Hồ Quý công tự là Phúc Thiện phủ quân. Tỉ là chính thất Chu thị nhất nương, hiệu Từ Nghi nhụ nhân. Công húy là An, là thứ của Quản lĩnh công”.

– Theo Hồ Tông thế phả[12] chép: “Thủy tổ khảo Chánh Đội trưởng Hồ nhất công tự Thiện Phúc, Tỷ chính thất hiệu Từ Tín, Công thành nhung chinh Chiêm Thành, Hậu lưu cư Thuận Hóa, kim tức Thừa Thiên tỉnh, An Cựu xã, Hồ tộc nhất chỉ thịnh thượng vi công dĩ. Công húy Hồng…”

– Theo “Đông Thành phổ ký” cửa Bùi Dương Lịch ghi là: con cụ Hồ Cao là Thiện Tâm và Thiện Tính ra Thổ Đôi trang.

Như vậy, theo tư liệu, gia phả chi phái nói trên thì cụ Hồ Cao có 2 con trai thứ từ Quỳ Trạch dịch cư ra Thổ Đôi trang là: Hồ Thiện Tính và Hồ Thiện Tâm. Hồ Thiện Tâm tên “tự Phúc Thiện”, “húy Hồng” tức Hồ Hồng.

Căn cứ niên đại, độ tuổi hai nhân vật lịch sử Trạng nguyên Hồ Tông Thốc (1324) và Hồ Hồng (1358) nêu trên, theo phương pháp luận logic khoa học để xác định tuổi ông, cha, anh, em, như sau:

A. Thuyết 1: Cụ Hồ Cao sinh ra Hồ Hồng

Theo gia phả cổ Hán nôm họ Hồ đại tôn, Thuận An, Việt Thuận, Vũ Thư, Thái Bình[13] (sưu tập chép sử phả từ năm 1500), chép: “Thượng thư Hồ Sỹ Dương, Tham Nghị Hồ Sỹ Tông đều nói: Hồ Kha sinh Hồ Cao, Hồ Cao sinh Hồ Hồng, Hồ Hồng sinh Hồ Hân (trang 73), “Nhất tổ Cao hồi cư Quỳ Trạch” (trang 74, dòng cuối)

a. Giả thiết 1: Cụ Hồ Cao sinh ra cụ Hồ Hồng

* Vậy cụ Hồ Hồng sinh năm 1358, ít hơn cháu là Hồ Tông Thốc (1324) là 34 tuổi, mà Hồ Tông Thốc là con trai thứ 2 Hồ Cao, thì Hồ Tông Thốc là anh Hồ Hồng. Vậy là Hồ Hồng là con thứ Hồ Cao là phù hợp.

* Do đó cụ Hồ Cao sinh khoảng năm 1300 (1324-24), vì cách trên Hồ Tông Thốc (1324) có 1 anh trai thất phả

* Cụ Hồ Kha sinh khoảng năm 1274 (1300 – 26), vì cách trên Hồ Cao là 2 chị gái

* Vậy Hồ Hồng sinh 1358 là em Hồ Tông Thốc (1324), đều là con Hồ Cao (1300) và là cháu Hồ Kha (1274), là phù hợp với gia phả họ Hồ đại tộc Tam Công chép: (cụ Hồ Kha sinh năm Khai thái thứ 2 triều Trần (1240-1290).

b. Giả thiết 2: cụ Hồ Cao là anh cụ Hồ Hồng:

Theo Hồ gia hợp tộc phả ký[14] chép: “lại xét, Thái Thủy tổ Hồ Kha sinh thời Trần Minh Tông năm thứ 6, Tân Mùi (1331), qua Hiến Tông năm thứ 12 (1340), Dụ Tông năm thứ 28 (1368), mới sinh Hồ Hồng, vậy đã ngoài 20 tuổi. Lại qua Nghệ Tông năm thứ 3 (1372), Duệ Tông năm thứ 4 (1376), đến Phế Đế năm thứ 12 (1388) mới đến Thổ Đôi, vậy Thủy tổ ta khoảng 20. Hồ Cao là em trai Hồ Hồng, mà Tông Thốc lại là con trai cụ Hồ Cao; vậy vào thời Nghệ Tông năm thứ 6 (1375) mà đã đi thi đỗ, kể sớm muộn trước sau năm ấy, vẫn khó hiểu. Hoặc nghĩ rằng Hồ Hồng là em Hồ Cao chăng, điều đó chưa rõ, bởi vậy chép mà biết, tồn nghi”.

Theo Nghệ An ký tập 2, trang 117, chép: “Cụ Hồ Cao là anh cụ Hồ Hồng”

Nếu cụ Hồ Kha sinh năm 1325, cụ có hai con trai là Hồ Hồng sinh năm 1358 là anh Hồ Cao sinh năm 1360. Vậy Hồ Tông Thốc (1324) là cháu hơn chú Hồ Hồng (1356) là 34 tuổi (1324/1358) và Hồ Tông Thốc là con Hồ Cao (1360), vậy con hơn cha 36 tuổi (1324/1360) được sao? Hồ Tông Thốc (1324) là cháu cụ Hồ Kha (1325), vậy là cháu hơn ông nội 1 tuổi (1324/1325), là đúng sao!?

c. Giả thiết 3: Cụ Hồ Cao là em Hồ Hồng

Theo Hồ Tông thế phả[15] chép: Ông Hồ Kha sinh vào niên hiệu Khai Thái thứ 2 (1325) đời Trần Minh Tông, khi lớn lên từ thôn Tam Công, xã Quỳ Trạch, huyện Thổ Thành, di cư đến thôn Nghĩa Liệt, xã Tiên Sinh, tổng Đường Khê, huyện Quỳnh lưu, sau lại dời xuống sách Hoàn Hậu (nay đổi thành xã Hoàn Hậu), phù hợp địa nghi nên ở lâu dài tại Trang (Thổ Đôi nay là thôn Quỳnh Đôi). Người khai cơ của ấp này, thực bắt đầu từ ông vậy. Ông lấy vợ tên húy là gì không còn truyền. Khi ông sống ở xã Tiên Sinh, sinh được hai người con trai, con trai trưởng tên là Hồng, theo ông đến xã Hoàn Hậu, sinh ra người con trai là Quản Lĩnh công tên húy là Hân là ông tổ họ Hồ bản thôn. Con trai thứ tên là Cao, trở về sinh sống ở Quỳ Trạch, sinh ra Trạng nguyên Hồ Tông Thốc, trở thành ông tổ ở thôn Tam Công”.

Nếu theo Gia phả và khắc Bia đá mới dựng năm 2022 của họ Hồ Quỳnh Đôi ghi Hồ Cao sinh năm 1360. Vậy mà năm 1366 xuất hiện văn bia ở Chùa cổ Phổ Thành (Bắc Ninh), ghi tên người soạn văn bia là Trạng nguyên Hồ Tông Thốc quê ở Thổ Thành, Nghệ an. Oái oăm thay lúc đó Hồ Cao mới có 06 tuổi. Vậy làm sao Hồ Tông Thốc (1324) khi chưa có mặt trên đời mà đã viết được Văn bia nói trên!? Và con (Hồ Tông Thốc – 1324) hơn cha (Hồ Cao- 1360) là 36 tuổi, cháu (Hồ Tông Thốc -1324 hơn bác ruột (Hồ Hồng 1358) là 34 tuổi.

Giả thiết này lại càng vô lý hơn.

B. Thuyết 2: Cụ Hồ Kha sinh khoảng năm 1259 hoặc 1265

Theo Lịch sử Hồ đại tộc Tam Công[16], viết: theo “Họ Hồ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam” (trang 37) Hồ Sỹ Giàng viết: “Hồ Kha đến Thổ Đôi trang đời Trần Minh Tông (Giáp Dần – 1314), như vậy, ông phải sinh trước năm 1300, vào khoảng năm 1259 hoặc 1265 mới đúng. Thuyết này có cơ sở hơn, vì nếu ông sinh vào năm 1325 thì không thể có cháu là Hồ Tông Thốc đậu Trạng nguyên năm Thiệu Khánh thứ 2”. Theo Tiến Sỹ Trần Đình Phong (người xã Mã Thành, Yên Thành): “Hồ Tông Thốc sinh năm 1324 và đậu Trạng nguyên năm 1341, lúc mới 17 tuổi là phù hợp”

C. Thuyết 3: Về ba nhân vật Hồ Kha > Hồ Cao > Hồ Hồng

Một nhà nghiên cứu sử (yêu quý họ Hồ đăng trong disanthegioi.vn.) viết: “lịch sử hình thành địa lý mảnh đất Thổ Đôi trang, theo tài liệu thì năm 1314 cụ Hồ Kha đã đến xem đất định khai cơ. Năm 1378 cụ Hồ Hồng mới đến nếu cụ Hồ Hồng sinh năm 1358 thì cụ vừa tròn 20 tuổi”.

* Giả thiết 1:

Cụ Hồ Kha đến năm 1314. Lúc cụ tròn 30 tuổi.

1314- 30 tuổi = 1284.

1284 + 58 ( tuổi thọ cụ Hồ Kha) = 1342.

Vậy cụ Hồ Kha mất năm 1342.

Cụ Hồ Hồng sinh năm 1358

Như vậy cụ Hồ Kha cũng không phải là Cha cụ Hồ Hồng và càng sai lầm hơn là cụ Hồ Cao anh em với cụ Hồ Hồng

* Giả thiết 2.

Nếu cụ Hồ Kha qua Thổ Đôi Trang năm 1314 lúc cụ 20 tuổi.

1314-20 tuổi thì cụ sẽ sinh năm 1294 +58 tuổi ( tuổi thọ Hồ Kha)

1294 +58=1352.

Thì cụ vẫn không thể là Bố của cụ Hồ Hồng được.

* Giả thiết 3.

Cụ Hồ Tông Thốc sinh năm 1324 là con cụ Hồ Cao.

Cụ Hồ Kha 20 tuổi có con

1324- 20 tuổi = 1304.

Vậy tuổi của cụ Hồ Kha sinh năm 1304.

Hồ Cao 1304

Hồ Hồng 1358

1358-1304= 54 năm.

Nếu như vậy tính theo giả thuyết 3 thì cụ Hồ cao sẽ là Cha của Hồng khi cụ mất Hồ Hồng tròn 4 tuổi. Giả thuyết này là khả thi”.

Nhận định chung: Căn cứ kết quả phân tích lập luận trên cơ sở thực tế, khách quan, khoa học của 3 thuyết nói trên về năm sinh các cụ Hồ Kha, Hồ Cao, Hồ Hồng gồm:

1) Thuyết 1 do Nhóm NCLSHHVN đã phân tích lập luận: “Cụ Hồ Kha sinh khoảng năm 1274 là phù hợp”.

2) Thuyết 2 Hồ Sỹ Giàng cố vụ trưởng VPCP tác giả “Họ Hồ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam (trang 37), nói: “cụ Hồ Kha sinh vào khoảng 1259 hoặc 1265 mới đúng”.

3) Thuyết 3 của nhà nghiên cứu lịch sử (yêu quý họ Hồ): Theo tài liệu “Disanthegioi.vn”, phân tích lập luận: “Cụ Hồ Kha sinh khoảng năm 1284 cũng gần thực tế khách quan”.

Ba thuyết trên có cách tính khác nhau và tuy có chênh lệch nhau trên dưới 10 năm, nhưng phù hợp với sử phả thế thứ dòng họ.

Như vậy, ta có cơ sở khẳng định cụ Hồ Kha (sinh khoảng năm Ất Sửu 1265-1274), cụ Hồ Cao (sinh khoảng năm 1300), Trạng nguyên Hồ Tông Thốc (sinh năm 1324) và cụ Hồ Hồng (sinh năm 1358) là phù hợp với lịch sử, sử phả nhiều chi phái và gia phả cổ họ Hồ đại tôn, thôn Thuận An, xã Việt Thuận, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (năm 1500, Hán nôm, trang 73, dòng đầu, trang 74, dòng cuối) là: “Thượng thư Hồ Sỹ Dương, Tham nghị Hồ Sỹ Tông đều nói: Hồ Kha sinh ra Hồ Cao, Hồ Cao sinh ra Hồ Hồng, Hồ Hồng sinh ra Hồ Hân”, “Nhất tổ Cao hồi cư Quỳ Trạch”.

IV. TỤC LỆ GIA PHONG TRUYỀN ĐỜI

1. Đại lễ tế Tổ đầu Xuân: tại Nhà thờ Hồ đại tộc Tam Công, Thọ Thành, tổ chức trước (ngày 9-10 tháng Giêng). Chi phái, nhánh dưới (Quỳnh Đôi) tế sau (ngày 11-12 tháng Giêng). Trước ngày đại lễ tế tổ, họ Hồ Quỳnh Đôi cử đoàn con cháu về tảo mộ và dự tế tổ ở nhà thờ họ Hồ Tam Công. Sau đó các Trung chi, tiểu chi tiếp tục tế đến hết tháng Giêng…

2. Vinh quy bái tổ: Nhiều con cháu thành đạt về vinh quy bái tổ: Tại nhà thờ Hồ đại tộc Tam Công, như: Thượng thư Hồ Sỹ Dương đã về Vinh quy bái tổ và dâng bức trướng “Thái sơn Bắc đẩu” được nhà Vua ban tặng dâng lên nhà thờ gốc tổ Tam Công hiện vẫn còn treo giữa Trung điện từ đường, Hồ Sỹ Tuần hai lần vinh quy bái tổ (lúc đỗ Cử nhân và khi đỗ Tiến sỹ)…

3. Về xưng hô phong tục truyền thống: Từ xa xưa họ Hồ Quỳnh Đôi vẫn gọi họ Hồ đại tộc Tam Công là Bác (ngành trưởng). Nhiều bậc thúc phụ, bô lão vẫn còn giai thoại như vậy…

V. PHÁT LỘ 10 ĐỜI THẤT PHẢ

Trong quá trình khảo sát, đối chiếu và nghiên cứu hệ thống sử liệu liên quan đến lịch sử họ Hồ Việt Nam, đã bước đầu phát lộ được đại diện của 10 đời thất phả – giai đoạn mà gia phả dòng họ bị gián đoạn hoặc không còn lưu giữ đầy đủ trong các bản gia phả truyền đời. Đây là một kết quả có ý nghĩa quan trọng, góp phần từng bước khôi phục mạch truyền thừa lịch sử của dòng họ trong những thời đoạn nhiều biến động.

Điều đáng lưu ý là, mặc dù gia phả trực hệ của một số đời không còn nguyên vẹn, song nhiều nhân vật họ Hồ tiêu biểu trong giai đoạn này vẫn được ghi nhận trong chính sử, sách địa phương chí, tư liệu lưu trữ tại các thư viện, bảo tàng cách mạng quốc gia và địa phương, cũng như trong các công trình nghiên cứu lịch sử đã được công bố. Những nguồn tư liệu này cung cấp căn cứ quan trọng để nhận diện, đối chiếu và xác lập vị trí lịch sử của các thế hệ họ Hồ trong tiến trình phát triển chung của dòng họ và của quốc gia.

Việc phát lộ đại diện 10 đời thất phả không chỉ có ý nghĩa trong việc bổ khuyết khoảng trống gia phả, mà còn mở ra hướng tiếp cận mới cho nghiên cứu lịch sử dòng họ theo phương pháp liên ngành, kết hợp giữa gia phả học, sử học, Hán Nôm học và nghiên cứu di sản. Trên cơ sở đó, có thể từng bước phục dựng mạch thế thứ một cách thận trọng, khoa học và phù hợp với thực tiễn sử liệu.

Kết quả khảo cứu bước đầu đã được đăng trong “Một hướng tiếp cập lịch sử họ Hồ Việt Nam” đặt ra yêu cầu tiếp tục thẩm định, kiểm chứng và đối thoại học thuật trong phạm vi rộng hơn, nhằm bảo đảm rằng việc phục dựng 10 đời thất phả được tiến hành trên nền tảng khoa học, khách quan và có sự đồng thuận cao giữa các nhà nghiên cứu và các chi họ liên quan.

VI. KẾT LUẬN

Từ việc phân tích, đối chiếu các nguồn sử liệu thành văn, gia phả cổ Hán Nôm, di tích lịch sử và kết quả khảo sát thực địa, có thể khẳng định rằng việc xác định phát tích họ Hồ Việt Nam và làm rõ thế thứ truyền thừa của dòng họ là một vấn đề khoa học nghiêm túc, có ý nghĩa không chỉ đối với lịch sử một dòng họ, mà còn góp phần bổ sung nhận thức về lịch sử – văn hóa dân tộc.

Những kết quả nghiên cứu bước đầu của Nhóm nghiên cứu độc lập về lịch sử họ Hồ Việt Nam và Hội đồng gia tộc Hồ đại tộc Tam Công cho thấy nhiều chứng cứ, chứng tích lịch sử có độ tin cậy cao, góp phần làm sáng tỏ không gian phát tích gốc Tổ, vị trí lỵ sở Châu Diễn trong thế kỷ X, cũng như mối quan hệ thế thứ giữa các nhân vật lịch sử chủ chốt của dòng họ. Các kết quả này cho thấy sự tương thích đáng kể giữa sử liệu, gia phả và thực địa lịch sử.

Trong bối cảnh hiện nay, khi yêu cầu chuẩn hóa nhận thức lịch sử ngày càng đặt ra rõ ràng, việc tiếp tục nghiên cứu lịch sử họ Hồ Việt Nam cần được triển khai trên nền tảng khoa học, khách quan và minh bạch, nhằm hướng tới sự thống nhất nhận thức, tránh những sai lệch kéo dài và những hệ lụy không đáng có trong đời sống họ tộc.

VII. KIẾN NGHỊ NGHIÊN CỨU

Kiến nghị tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu chuyên sâu về phát tích họ Hồ Việt Nam và thế thứ truyền thừa dòng họ, trên cơ sở đối chiếu hệ thống sử liệu chính thống, gia phả cổ, thần tích, văn bia và các chứng cứ khảo cổ – di sản liên quan.

Kiến nghị thành lập Hội đồng thẩm định nội dung lịch sử họ Hồ Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc khoa học, độc lập và khách quan. Hội đồng cần có sự tham gia của các nhà sử học chuyên ngành, chuyên gia Hán Nôm, đại diện các chi họ lớn và các nhóm nghiên cứu độc lập, nhằm bảo đảm tính phản biện và độ tin cậy học thuật.

Kiến nghị tiến hành phúc tra, rà soát và chuẩn hóa các ấn phẩm lịch sử họ Hồ đã xuất bản, đặc biệt là những nội dung còn tồn tại dị biệt, chưa được kiểm chứng đầy đủ, từ đó có cơ sở khoa học cho việc chỉnh sửa, bổ sung hoặc tái bản trong thời gian tới.

VIII. KIẾN NGHỊ TỔ CHỨC HỘI THẢO KHOA HỌC

Kiến nghị Thường trực Hội đồng họ Hồ Việt Nam và Ban Sử họ Hồ Việt Nam sớm tổ chức Hội thảo khoa học lịch sử họ Hồ Việt Nam theo đúng chủ trương đã được thống nhất từ năm 2020. Hội thảo cần được xác định là diễn đàn học thuật chính thức, có tính mở và đối thoại khoa học.

Nội dung hội thảo nên tập trung vào các vấn đề trọng tâm, gồm:

Phát tích họ Hồ Việt Nam trong bối cảnh lịch sử quốc gia;

Vai trò của Hồ Hưng Dật và lỵ sở Châu Diễn trong thế kỷ X;

Vấn đề thế thứ truyền thừa và mối quan hệ giữa các chi họ;

Phương pháp tiếp cận và chuẩn hóa sử liệu lịch sử dòng họ.

Thành phần tham dự hội thảo cần bao gồm:

Các nhà sử học, chuyên gia Hán Nôm, khảo cổ học;

Đại diện các chi họ Hồ lớn và các địa phương liên quan;

Nhóm nghiên cứu độc lập và đại diện cơ quan quản lý văn hóa – khoa học.

Kết quả hội thảo cần được tổng hợp thành kỷ yếu khoa học, làm cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu, chỉnh lý sử phả và biên soạn các ấn phẩm lịch sử họ Hồ Việt Nam một cách bài bản, thống nhất và có giá trị lâu dài.

IX. TÀI LIỆU THAM KHẢO

– Lịch sử di tích Đền Sừng, Lăng Thành.

– Lịch sử VN 15 tập, NXB Khoa học Xã hội – 2014.

– Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học xã hội – 1971.

– Gia phả Hán nôm cổ họ Hồ đại tôn Thuận An, Việt Thuận, Vũ Thư, Thái Bình, viết 1550, Cụ Hồ Sỹ Dung dịch biên 02/8/2006. –

– Một hướng tiếp cận lịch sử họ Hồ VN NXB Đại học quốc gia TPHCM, Hồ Duy Diệm và 4 tác giả đồng chủ biên, 210/QĐ, 04/11/2019. NXB Đại học tp Hồ Chí Minh.

– Lịch sử họ Hồ đại tộc Tam Công, Hồ Sỹ Ngoan chủ biên, 174/QĐ, 26/11/2020 NXB Nghệ An.

– Họ Hồ VN cội nguồn và phát triển, Hồ Quốc Toản chủ biên, 10/QĐ, 14/01/2019 NXB khoa học xã hội.

– Hồ tông thế phả, Hồ Hồng Nguyên biên dịch, 72/QĐ, 13/5/2021, NXB Khoa hoc Xã hội.

– Hồ gia hợp tộc phả ký, Trần Lê Sáng và Nguyễn Hữu Tưởng biên dịch, 73/QĐ, 13/5/2021 NXB Khoa học Xã hội.

– Hồ gia thế phả, Đào Phương Chi biên dịch, lưu hành nội bộ, Hà Nội -2021.

– Gia phả tiểu chi, lược sử họ Hồ Quỳnh Đôi, Hồ Mậu Đờn, Xuân Tân Hợi – 1971, Hồ Sỹ Hinh Việt Kiều Mỹ chép 1988.

X. PHỤ LỤC

NHỮNG DI TÍCH VÀ CHỨNH TÍCH LỊCH SỬ

Liên quan đến Trạng nguyên Hồ Hưng Dật TK 10-14

Dịch trang 38

HỘI ĐỒNG GIA TỘC HỌ HỒ THUẬN AN VIỆT THUẬT

VŨ THƯ THÁI BÌNH

GIA PHẢ

HỒ ĐẠI TÔN THUẬN AN

HÁN NÔM

SƯU TẦM GHI CHÉP TỪ NĂM 1500

3 MINH BIA CHÙA CỔ Ở BẮC NINH, NINH BÌNH, THÁI BÌNH DƯỚI ĐÂY:

Di tích lịch sử lăng mộ và nhà thờ Quận công Hồ Cưỡng ( Hồ Hồng) tại xã Nhân Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình

  1. LS HHĐTTC: tr.9 dòng 9, Nxb NA-2020, Hồ Sỹ Ngoan, trưởng ban sử họ (chủ biên).

  2. HTTP: trang 13 phiên âm, tr.127 hán nôm, Nxb KHXH-2021, Hồ Hồng Nguyên (biên dịch).

  3. HG HTPK: tr.68, dòng 9, nxb KHXH – 2021, Trần Lê Sáng và Nguyễn Hữu Tường biên dịch

  4. HTTP: tr.127, dòng 5, hán nôm, (phải sang), Nxb KHXH-2021, Hồ Hồng Nguyên (biên dịch).

  5. Bào Đột, Ngọc Sơn vùng này thế kỷ 10 còn rừng rú âm u, sao từ Quỳ Lăng – Lăng Thành ông Hồ Hưng Dật lại ra đây (xa và khó đi) và sao không thấy dấu tích gì? và về phong thủy cũng không phát… Sách Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên ( XB- 2005, tr 35) có ghi: “Đời Long Đức vua Lê Thánh Tông (1732-1735) có thầy địa lý người Tàu đi qua địa phận làng Quỳnh Lâm, đứng ở chân núi Tùng (rừng thông) nói rằng: “Ngàn Tùng được khí đất thì cỏ cây xanh tốt, chứ người không phát đạt”. Ông thầy ấy lượn đi lượn lại, nghĩ ngợi xa trông chỉ làng ta (Quỳnh Đôi- HBT) mà nói rằng: “ Thử địa cát, thử địa cát, công hầu thát thát”, có nghĩa là đất làng ấy hay, đất làng ấy hay, công hầu san sát” (gia phả của quan Hiến phổ ở làng Hoàng Trường biên vậy)”… Như vậy về mặt địa lý phong thủy vùng Quỳnh Lâm, hay Ngọc Sơn, Thượng Đột nay được khí đất thì cỏ cây xanh tốt, chứ người không phát đạt. Xưa cụ Hồ Hưng Dật thông thạo phòng thủy là sao cụ lại chọn làm nơi sinh sống lâu dài và làm trại chủ?

  6. LLDTĐS: Tr.3, dòng đầu, BTNA-2001, Trần Thị Phương (Biên dịch)

  7. LSĐBNĐ: trang 11, dòng 4, TS.Ngô Đăng Tri (chủ biên) – 1996

  8. HH ĐTTATB: tr.31, dòng 8, bản dịch 2016, GS.TS.Hồ Sỹ Quý (chủ biên) và xuất bản.

  9. LSHHĐTTC: tr37, nxb NA-2020, Hồ Sỹ Ngoan trưởng ban sử (chủ biên)

  10. HHĐTTC: tr35,36, nxb NA-2020, Hồ Sỹ Ngoan trưởng ban sử (chủ biên).

  11. HGTP: tr12, 15, (bản dịch) 38, 41 (hán nôm), Đào Phương Chi (phiên dịch). Lưu hành nội bộ 2021.

  12. HTTP: tr17, dòng 8, nxb KHXH-2021, Hồ Hồng Nguyên (biên dịch).

  13. HHĐTTATB: tr73, tr74 (hán nôm) sưu tập chép từ năm 1500.

  14. HGHTPK: tr12, 15, (biên dịch)-2021, Đào Phương Chi (biên dịch) (lưu hành nội bộ).

  15. HTTP: tr.24, dòng 5, Nxb KHXH-2021, Hồ Hồng Nguyên (biên dịch).

  16. HHĐTTC: tr33, nxb NA-2020, Hồ Sỹ Ngoan trưởng ban sử (chủ biên).


Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

The maximum upload file size: 64 MB. You can upload: image, audio, video, document, spreadsheet, interactive, text, archive, code, other. Links to YouTube, Facebook, Twitter and other services inserted in the comment text will be automatically embedded. Drop files here

Xem thêm