“Trần Ngu Kinh Kỷ Nghìn Thu Tích
Bào Sảo Giang Sơn Vạn Đại Từ”
NCVCC, TS. HỒ BÁ THÂM

Bài viết tiếp này lại thêm góc nhìn mới về câu đối nói trên rất đang tham khảo khi anh Hồ Quốc Phi – Cử nhân Hán ngữ – dịch, có thêm góc nhìn mới, so sánh mới, bình luận mới.
Nói lại bàn thêm vì chúng tôi đã bàn trong bài viết: Bàn thêm một vài khía cạnh tồn nghi rất quan trọng và nhạy cảm trong lịch sử họ Hồ Việt Nam (1) [1], liên quan đến lịch sử họ Hồ Việt Nam!
I- XIN TÓM TẮT NỘI DUNG BÌNH LUẬN CHÍNH (VỀ CÂU ĐỐI) TRONG BÀI TRÊN NHƯ SAU
HBT: So sánh và phát hiện: Như vậy, theo phân tích trên thì Trần Hồ không phải là nhà Trần và nhà Hồ như tài liệu Trang sử họ Hồ của Hồ Bà Hiền ghi “trang 15: Nhân dân còn nhớ một đôi câu đối ở đền này: ”Trần Ngu kinh kỷ thiên thu tích – Bào Sảo giang sơn vạn đại từ” (Dịch nghĩa: Dấu vết nhà Trần và nhà Hồ đã trải qua hàng ngàn nãm – vì nhà Hồ đặt quốc hiệu là Ðại Ngu – Cái đền thờ ở Bào Ðột và núi Sảo này còn mãi với giang san). Tại Bào Ðột còn có bãi đấu, bãi tập, bãi đóng quân, động cột cờ. Ðền thờ Nguyên Tổ (trước 2014 không có xung danh này – HBT) là một công trình được Hồ Hán Thương vâng mệnh cha xây dựng miếu thờ ở các lăng tẩm Bào Đột Linh Nguyên để thờ cúng tiên tổ (theo Đại Việt SKTT – Bản kỷ – Quyển VIII, trang 300). Sau nay nhân dân quen gọi là Đền thờ Vua Hồ. Tiếc rằng do một chủ trương quá tả mà năm 1971, địa phương đã phá dỡ để lấy gỗ gạch ngói làm việc khác, chỉ còn sót lại móng công trình và một số mảnh vỡ của gach, ngói trên khu đất cũ.”
Theo dịch trên của HBH thì nhà Trần nhà Hồ này là 2 triều ở Việt Nam. Sách HHVNCNPT do HQT chủ biên, tái bản 2020 trang 30-31 cũng giống vậy. “Dấu vết Trần – Hồ trải hàng ngàn nãm/ Ðền thờ trên núi Sảo – Bào Ðột còn mãi với giang sơn” (vẫn như ý của HBH). Tại sao miếu xây dựng vào thế ký 15 lại dịch “đã mấy nghìn năm”? Lại nói vì nhà Hồ đặt quốc hiệu là Ðại Ngu, và triều Hồ liên quan đến triều Trần, nên dấu vết nhà Trần và nhà Hồ? Dịch thế mà cũng cho là đúng sao? Hiểu nghĩa và dịch thuật sai sai thế nào ấy!
Rõ ràng” Chữ “Trần Ngu” ở đây không phải nghĩa là nhà Trần và nhà Hồ (có quốc hiệu Ðại Ngu). Xây miếu thờ là để thờ tiên tổ, (thờ tiên tổ nghĩa là thờ từ đời cha đẻ của nhánh Hồ Liêm trở lên (nhánh trưởng Hồ Kha khi đó đã có nhà thờ Tam Công và Quỳnh Đôi thờ xây dựng trước đó – HMC). Sau nay, khi triều Hồ không còn, nhân dân thường gọi đây là “Ðền vua Hồ” (Hồ Hưng Dật chỉ là một chức quan nhỏ, không phải vua- HBT) thì liên quan gì đến nhà Trần bị lật đổ trước đó mà phải viết vào câu đối thờ?
“Trần Ngu” là chỉ viễn tổ họ Hồ là Ngu Vĩ Mãn hay Hồ Công, dòng dõi Đế Thuấn được Chu Vũ Vương phong ở đất Trần. Hồ Quý Ly lấy quốc hiệu là Đại Ngu, nhận mình là dòng dõi Đế Thuấn, thì có thể thấy Đế Thuấn, hay cả giai đoạn mà Kinh Thư gọi là Ngu Thuấn gồm Nghiêu – Thuấn – Vũ đều là lịch sử người Việt. Và nhà Trần- Hồ (từ thế kỷ 13-15) sao mấy ngàn nãm vậy? Rõ ràng là đã dịch sai? DỊCH DỨNG LÀ (Trần Hồ) “TRẦN NGU” là chỉ VIỄN TỔ HỌ HỒ LÀ NGU VĨ MÃN hay Hồ Công, dòng dõi Ðế Thuấn, được Chu Vũ Vương phong ở ÐẤT TRẦN” THÌ MỚI TRẢI MẤY NGHÌN NÃM!
Và dịch “Dấu vết Trần – Hồ (VN)…” thì hơi thô thiển quá! (xem thêm phần dịch của HMC nói về công tích, công đức, sự nghiệp… thấy nghĩa nó sâu xa thâm nho trong câu đối).
Câu đối vế 2 như Hồ Minh Châu (HMC) cắt nghĩa nó cũng sâu xa hơn, khái quát, ý nghĩa hơn tương ứng vế 1 (Bào Sảo nghĩa là “cái tổ ruột thịt”, gốc rễ, nôi phát tích của dòng họ, hiểu là quê hương gốc, tổ nghiệp do tổ tiên gây dựng), chứ đâu chỉ là tên riêng? HOẶC VỪA NGHĨA CHUNG VỪA TÊN RIÊNG VỪA CHƠI CHỮ? Và do không có bản chữ Hán gốc, biết đâu “Bào Sảo” là có thể là do người viết câu đối đặt tên?
Câu đối xưa các cụ Nho là nho nhã lắm, là ý tại ngôn ngoại, không đõn điệu, thô thiển, dễ dãi, cốt lấy địa danh, vị trí. vế tích… như cách dịch nghĩa của cụ HBH hay HQT và những người khác…. Hay cả trong sách của Ninh Viết Giao (Ðịa chí vãn hóa huyện Quỳnh Lýu, 1998, tr. 456)!
Rồi việc dựng miếu thời TỔ TIÊN bên lãng tẩm lại dịch thành đền thờ Hồ Hưng Dật cũng hơi gượng ép. Tổ tiên ở đây là từ đời thứ 5 trở lên kể từ Hồ Hán Thương. Trong TỔ TIÊN/ tiên tổ nói ở đây không chỉ có Hồ Hưng Dật mà cho tới Viễn Tổ xa hơn tận cội nguồn họ Hồ ở phương Bắc kia (như đã nêu).
Tức “chỉ VIỄN TỔ HỌ HỒ LÀ “NGU VĨ MÃN” hay Hồ Công, dòng dõi Ðế Thuấn được Chu Vũ Vương phong ở ÐẤT TRẦN!”. Việc vua Hồ Quy Ly đặt tên nước là Ðại Ngu và trong câu đối Trần Hồ đã trải hàng nghìn nãm nói trên đã chứng minh điều đó!
Nếu Thượng hoàng HỒ QUÝ LY MUÔN LẬP ÐỀN THỜ HỒ HƯNG DẬT THÌ ÐÃ NÊU ÐÍCH DANH. Không! Ông chỉ nói là THỜ TỔ TIÊN/ TIÊN TỔ VỚI HÀM NGHĨA RẤT RỘNG![2]. Do đó HBT muốn tham khảo thêm ý kiến anh HQP, một chuyên gia Hán Nôm!
HBT: Kinh gửi anh Hồ Quốc Phi: Vấn đề dịch thuật câu đối ở miếu thờ tổ tiên ở Bào Ðột/ Ngọc Sơn như anh HQP dã đọc bài nói trên nhất là đọạn vãn vừa trích thì đã phù hợp chưa anh HQP! Nhất là vế 1 của câu đối: “Trần Hồ kinh kỷ thiên thu tích/ Bào Sảo giang sõn vạn ðại từ” (31/3/2026)

Đền thờ Hồ Hưng Dật tại Bào Đột (hình chụp 2026)
II- Ý KIẾN VÀ BẢN DỊCH CỦA ANH HỐ QUỐC PHI (HQP)
HQP: Bác Hồ Bá Thâm thân mến, cảm ơn Bác đã gửi những bài viết, giải nghĩa về câu đối “Trần Ngu Kinh kỷ thiên thu tích. Bàu Sảo Giang sơn vạn đại từ”. Nếu Bác có nguyên vãn câu đối này bằng chữ Hán cổ để Em nghiên cứu và có chia sẻ gửi Bác tham khảo sẽ hay nhất. Kính Bác, HQPHI (1/4/2026)
HBT: Ngay Ninh Viết Giao khi đầu tiên ghi lại câu này trong Địa chí văn hóa Quỳnh Lưu cũng không có chữ Han hay Nôm gì cả!
Thân gửi: Bác Thâm (5/4/2026)
(v/v giải nghĩa câu đối: “Trần Ngu Kinh kỷ thiên thu tích/Bào Sảo Giang sơn vạn đại từ” Em xin có một số kiến giải trình Bác tham khảo) như sau:
Đầu tiên: Em xin tự giới thiệu về mình để Bác nắm: từ năm 1973 – 1978: Em học tại Trường Đại học Bắc Kinh (Theo QS World University Rankings, Đại học Bắc Kinh hiệnđứng 14 thế giới). Hệ Trung văn (Hán ngữ hiện đại và Cổ Hán ngữ). Sau đó làm Tham tán Thương mại tại Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc kinh từ 1996 – 2002 (2 khóa) và Tham tán tại Đài Loan từ 2006-2010…Chủ yếu phụ trách quan hệ Kinh tế Thương mại Việt Nam Trung Quốc và VN-ĐL. Hầu như các Hiệp đinh Thương mại đều tham gia đàm phán và rà soát bản tiếng Trung (TQ sử dụng chữ Hán giản thể, ĐL sử dụng chữ Hán phồn thể). Trong nước công tác tại Bộ Ngoại thương (Sau này là Bộ Công Thương) đều sử dụng tiếng Trung trong giao dịch. Có thể nói Em chuyên ngành tiếng Trung, không theo ngành Lịch sử. Do vậy Em xin chỉ nói về ngôn ngữ, không nói về lịch sử.
Thời đại ngày nay thuộc về AI, ChatGPT… nên việc tra cứu, học hỏi rất thuận lợi. Tuy nhiện ChatGPT, AI…trả lời không thể thay thế cho các nghiên cứu chuyên sâu được.
Về Câu đối, được bắt nguồn là một bộ phận trong văn hóa Trung Hoa (Sau đó được lan truyền sang VN), rất phù hợp với loại chữ tượng hình (Chữ Hán là loại chữ tượng hình, còn chữ La tinh thuộc chữ tượng thanh), nên rất được nền Văn hóa Trung Hoa ưa chuộng. Các nghiêm luật trong câu đối rất nhiều, nhưng cần nhớ các Nguyên tắc sau:
- Danh từ đối danh từ
- Động từ đối động từ
- Tính từ đối tính từ
- Số từ đối số từ
- Hư từ đối hư từ
- Tên người / tên đất / điển tích cũng nên đối cân xứng
- Số chữ bằng nhau….
Do câu đối của Bác nêu ra bằng tiếng Việt, nên rất khó để giải nghĩa cách đây hơn 500 năm, do Vua Hồ Hán Thương lập ra khi xây Đền thờ, nhưng chúng ta cứ lần mở để tìm ra nghĩa đúng (hoặc gần đúng với ý nghĩa ban đầu).
Em xin đi vào chủ đề chính:
Câu đối: Trần Ngu Kinh kỷ thiên thu tích
Bào Sảo Giang sơn vạn đại từ
- Nguyên tắc số chữ bằng nhau: 7 chữ đúng
- Danh từ đối nhau: Trần Ngu đối Bào Sảo. Kinh Kỷ đối Giang sơn. Tích đối Từ
- Thời gian/không gian đối nhau: Thiên thu đối Vạn đại
Như vậy:
(a)Ta đã có thu hoạch ngay là: Thiên thu và Vạn đại, chữ Hán cổ là: 千秋-萬代,
Thiên thu đối Vạn đại thì Chuẩn quá rồi, dịch sang Hán cổ cũng chỉ có vậy.
(b) Kinh Kỷ đối Giang Sơn: Giang Sơn chỉ có duy nhất dịch sang chữ hán cổ là江山, là danh từ chỉ sông và núi, nhưng nghĩa rộng là đất nước, tổ quốc. Do vậy Kinh kỷ phải là danh từ chỉ một công trình gì đó to lớn ngang tầm với Giang sơn, tổ quốc. Theo Em chữ đó chính là Kinh Kỳ京畿 Là Kinh đô, Kinh thành là Trung tâm của đất nước. Như vậy: Kinh Kỳ đối với Giang Sơn là chuẩn. Ai đó hiểu từ “Kinh” nghĩa là kinh doanh, kinh qua (động từ là không đúng với vế đối). Rất có thể, khi viết chữ Việt, tác giả đánh dấu sai: dấu huyền thành dấu hỏi.
(c) Trần Ngu đối Bào Sào: Đây là 4 chữ khó nhất trong câu đối này.
– Trần Ngu: Chữ Ngu dịch ra Hán cổ phải là虞, vì Triều đại Đại Ngu do HQL lập ra chưa bao lâu thì HHT vâng lời Cha về dựng Đền thờ phải sử dụng. Còn chữ Trần có đến hàng chục nghĩa khác nhau (Nếu hiểu là Nhà Trần thì không đúng), trong đó nghĩa mà ChatGPT ghi: “chữ 陳 (Trần) không chỉ là họ Trần hay nghĩa bày ra / cũ xưa, mà còn là tên một nước chư hầu cổ đại trong lịch sử Trung Hoa. Đây chính là một trong những nguồn gốc làm cho chữ 陳 mang khí vị cổ kính, tông pháp, quý tộc và chính thống trong Hán học”. Do đó Em thiên về nghĩa mà Vua Hồ Hán Thương (HHT) nói Trần Ngu nghĩa là Thời đại Nhà Hồ:Trần Quốc陳國 hay Trần Ngu 陳虞 đều như nhau.
Như vậy, Bào Sào Danh từ chỉ tên một địa danh, nơi HHT xây Đền thờ đối với Triều Hồ là chuẩn. Vấn đề tên Bào Sào dịch ra chữ Hán cổ rất khó, vì đây là tên địa phương thuần Việt, nên chỉ có thể dịch theo vừa có âm tiết giống và có nghĩa là Bàu = Hồ nước lớn và Sào = núi Y Sào. Bàu Sào: 泡巢
(d) tích跡 sẽ được lấy từ “Danh thắng Cổ tích” Nghĩa là công trình Cổ kính Tuyệt đẹp.
Từ祠nghĩa là Từ đường, nơi thờ cúng
(đ) Như vậy, chúng ta đã có đủ 7 chữ trong cả 2 vế đối:
Trần Ngu Kinh Kỳ Thiên thu tích
Bàu Sào Giang Sơn Vạn đại từ.
陳虞京畿千秋跡 = Công trình Kinh đô Nhà Hồ Ngàn thu Bất diệt
泡巢江山萬代祠 = Đền thờ Bàu Sào Giang sơn Vạn đại Trường tồn.
Ngoài ra, Em đề nghị Bác chủ trì Giải nghĩa, bình phẩm 4 chữ mà Cụ tổ Hồ Hưng Dật đã tặng Ngài Đinh Bộ Lĩnh con trai của Cụ Đinh Công Trứ – Bạn đồng liêu của Cụ Trạng nhà mình: VẠN ĐẠI VI DÂN (3)[3] 萬代為民
Kính Bác,
Hồ Quốc Phi

Những viên gạch lát nền cổ quý hiếm được tìm thấy đền Vua Hồ, hoa văn sắc sảo. Dù đã trải qua 600 năm nhưng gạch vẫn còn tươi mới
HBT: Cụ HXA xem bản dịch của anh HQP thấy thế nào?
HXA: Phân tích của HQP cũng chỉ là một ý, vấn đề là HÌNH NHÝ KHÔNG AI CÓ CHỮ HÁN ÐÃ VIẾT của đôi câu đối đó nên khó lòng “cãi nhau”. Anh có biết hiện nay ở đâu có không? (05/04/2026).
HBT: Không thấy có bản chữ Hán gốc anh HXA ạ!
III- NÊN THAM KHẢO THÊM BÀI MỸ HÓA DÒNG TỘC- HỒ QUÝ LÝ NHẬN THỦY TỔ ĐỂ HIỂU VÀ DỊCH SÁT CÂU ĐỐI, NHẤT LÀ VẾ 1
HBT: Bản dịch của anh HQP rất chỉn chu, chuyên nghiệp, đáng để tham khảo… Nhưng xem bàn thêm sau.
Không có bản chữ Hán của của câu dối! Nhưng Trần Ngu sao lại dịch là triều Hồ được? Cụ Hồ Quí Ly cho làm miếu thờ tổ tiên là cả tổ tiên xa viễn tổ từ Ngu Công (bên Tàu xưa) chứ không chỉ tổ tộc tại/ ở VN (là Hồ Hưng Dật)! Xem bài “Mỹ hóa dòng tộc- Hồ Quý Ly nhận Thủy tổ” để biết thêm bối cảnh! (4) [4]
Bài này lưu ý như sau:
TRUY XUẤT “LÝ LỊCH” – TRẦN HỒ MỘT NHÀ (CÙNG GỐC TÍCH- HBT)
Cũng mang mặc cảm tương tự về nguồn gốc xuất thân, Hồ Quý Ly bước chân vào triều đình nhà Trần với căn cước con nuôi họ Lê, song tự nhận gốc gác đến từ họ Hồ. Tổ bốn đời[5] của ông là Hồ Liêm, di cư tới làng Đại Lại, Thanh Hóa, làm con nuôi cho quan Tuyên úy Lê Huấn, từ đó đổi sang họ Lê. Trong suốt 7 năm trước khi lên ngôi, Quý Ly liên tục cho người đi tìm tộc phả của hai dòng nội, ngoại, lên kế hoạch đổi họ, đồng thời gắn kết dòng tộc với nguồn cội vẻ vang, lẫy lừng hơn.
Năm 1393, Hồ Cương, người Diễn Châu (Nghệ An), cung cấp cho Hồ Quý Ly một tư liệu với nhan đề Hồ thị miêu duệ đồ (sơ đồ hậu duệ dòng họ Hồ), từ đó làm cơ sở để Hồ Quý Ly suy diễn tổ tiên bắt nguồn từ Hồ Hưng Dật, người gốc Chiết Giang, làm thái thú Diễn Châu vào thời Hậu Hán (947 – 951). Theo đó, Quý Ly là cháu đời thứ 16 của dòng họ Hồ Diễn Châu. Để tăng thêm cảm thức vẻ vang, Hồ Quý Ly còn cho biết, vào thời Lý, trong dòng họ đã có người lấy công chúa Nguyệt Đích, sinh ra công chúa Nguyệt Đoan, chứng tỏ họ Hồ Diễn Châu từng là vọng tộc hiển hách. Đến khi lên ngôi hoàng đế, vị vua 64 tuổi chính thức đổi thành họ Hồ. Và điều lạ lùng hơn cả đã xảy ra. Hồ Quý Ly tiếp tục truy nhận tổ tiên xa là Hồ công Mãn, tế vua Thuấn nước Ngu 虞 làm thủy tổ, từ đó đổi quốc hiệu từ Đại Việt trở thành Đại Ngu 大虞 .
Hồ công Mãn là ai, có liên quan gì đến vua Ngu Thuấn? Hồ Quý Ly có dụng ý gì khi truy gốc gác tổ tiên, kết nối với hai nhân vật xa xưa này? Tư Mã Thiên cho biết: “Trần Hồ công Mãn là hậu duệ của vua Thuấn nước Ngu […] Chu Võ Vương đánh thắng vua Trụ nhà Ân, bèn tìm lại hậu duệ của vua Thuấn, gặp được Quy Mãn, phong cho ở đất Trần để phụng thờ vua Thuấn. Đó chính là Hồ công”. Trần Hồ công Mãn được nhắc tới ở đây là hậu duệ của vua Thuấn, được phong ở đất Trần, có tên thụy được đặt sau khi mất là Hồ công. Con cháu của Trần Hồ công về sau chia làm hai nhánh, một nhánh lấy tên đất Trần làm họ, và nhánh còn lại chọn tên thụy hiệu đặt ra họ Hồ. Bởi vậy, hai dòng họ Trần và Hồ sau này, xét từ góc nhìn văn hóa lịch sử, vốn có chung nguồn gốc.
Dụng ý của Hồ Quý Ly vậy là đã rõ. Ngoài việc mỹ hóa nguồn cội bằng cách nhận vua Thuấn làm thủy tổ, tăng cường cảm thức tự tôn khi trở thành bậc quân chủ gây dựng nhà nước Đại Ngu, Hồ Quý Ly còn muốn thuyết phục đám đông bá quan và tôn thất cựu triều tin rằng, Trần và Hồ vốn là người một nhà mà thôi (…). Thông qua việc mỹ hóa danh tính, có thể thấy phần nào thủ pháp chính trị cùng tư tưởng của Hồ Quý Ly, con người ấy dứt khoát không phải nhân vật tầm thường. (còn tiếp) (Trích từ cuốn Họ và tên: một lịch sử nhìn từ danh tính người Việt, tác giả Trần Quang Đức, NXB Thế giới, Công ty Nhã Nam)/ HQP: Oke Bác! (5/4/20206)
IV- BÌNH LUẬN MỚI CỦA HBT SAU BẢN DỊCH CỦA ANH HQP
HBT: Sao lại dịch: “Công trình kinh đô nhà Hồ nghìn thu bất diệt!” (HQP). Có vô lý!? Và cũng hơi bị vô lý khi câu đối miếu thờ tổ tiên mà không rõ ý nguồn gốc sâu xa tổ tiên là sao? Câu đối nói trên không quan gì đến lịch sử triều ðại
Tích ở câu trên có lẽ không phải công tích, công nghiệp vì đã có kinh kỷ rồi mà có lẽ là GỐC TÍCH.
Theo HBT hiểu thì ý nghĩa của câu đối, nhất là vế 1, là:
TRẦN HỒ CÙNG GỐC TICH, ÐÃ HÀNG NGHÌN NĂM TRƯỚC/ BÀO SÀO MIẾU THỜ TIÊN TỔ SẼ TRƯỜNG TỒN VỚI NON SÔNG.
Ðại thể ý chính sát nghĩa hơn là như vậy anh HQP ạ!
HQP: Tks Bác (6/4/2026)
HBT: TRONG CÂU ÐỐI VẾ 1 NẾU CHỈ TRIỀU HỒ (QUÝ LY) THÌ KHÔNG THỂ CÓ CHỮ/ Ý: NGHÌN THU TÍCH! XIN NHỚ ÐÂY LÀ CÂU ĐỐI ÐẶT Ở MIỀU THỜ TỔ TIÊN THÌ PHẢI RÕ GỐC TÍCH XA, VIỄN TỔ CHỨ KHÔNG CHỈ LÀ DÙNG LẠI TỪ HỒ HƯNG DẬT TRỞ XUỐNG TRƯỚC 5 ÐỜI SAU CÙNG!
Xem Mỹ hóa dòng tộc- Hồ Quý Ly nhận Thủy tổ ta thấy càng rõ. NẾU THOÁT LÝ BỐI CẢNH, VÀ Ý TỬỞNG – Ý ÐỒ CỦA CHỦ THỂ SOẠN CÂU ÐỐI thì khó mà dịch sát nghĩa, nhất là khi không còn nguyên văn chữ Hán gốc!
Câu đối trên vế 1 NÓI GỐC TÍCH TỔ XA XƯA, vế 2 là MỚI LÀ NÓI THỜI NAY! ÐỐI LÀ VẬY! Không nên dịch ép!
Với cụ HQL tìm và thờ tổ tiên không dừng lại ở Hồ Hưng Dật mà là Viễn tổ Hồ Ngu Công rồi tới vua Nghiêu.
Họ Hồ trên đất Trần” câu 1 đối “Miếu thờ ở Bào Sảo” câu 2? Ý này là quan trọng nhất?
Ðể rộng đường cho việc thảo luận, thêm một cách hiểu ngày càng đúng hơn, chúng tôi xin trình bạn đọc bài viết tiếp theo này! Và qua bài viết biết đâu lại tìm đựợc câu đối nguyên vãn chữ Hán!?
Trân trọng!
TPHCM, ngày 8/4/2026
HỒ BÁ THÂM
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(2) Đã thảo luận và bình luận câu này và tổng hợp, in trong tập sách BÀN TIẾP MỘT HUỚNG TIẾP CẬN LỊCH SỬ HỌ HỒ VIỆT NAM, 2025, do Hồ BÁ THÂM, Hồ MINH CHÂU chủ biên (xem BÀI CUỐI PHẦN II)
(4) Đại Việt SKTT – Bản kỷ – Quyển VIII
(5) https://thanhnien.vn/my-hoa-dong-toc-ho-quy-ly-nhan-thuy-to-185260224212731453.htm
(6) https://tienphong.vn/phat-hien-gach-co-quy-hiem-hon-600-nam-trong-ngoi-den-vua-ho-post1585590.tpo
[1] https://hohovietnam.vn/thao-luan-them-mot-vai-khia-canh-ton-nghi-rat-quan-trong-va-nhay-cam-trong-lich-su-ho-ho-viet-nam/
[2] https://hohovietnam.vn/thao-luan-them-mot-vai-khia-canh-ton-nghi-rat-quan-trong-va-nhay-cam-trong-lich-su-ho-ho-viet-nam/
[3] Đã thảo luận và bình luận câu này và tổng hợp, in trong tập sách BÀN TIẾP MỘT HUỚNG TIẾP CẬN LỊCH SỬ HỌ HỒ VIỆT NAM, 2025, do Hồ BÁ THÂM, Hồ MINH CHÂU chủ biên (xem BÀI CUỐI PHẦN II)
[4] https://thanhnien.vn/my-hoa-dong-toc-ho-quy-ly-nhan-thuy-to-185260224212731453.htm?gidzl=1TftKgKhC3u0mNPSep0qEmx5S5YqOZLe4C9s3BndE6uRnNWBlMGwFKgHBmswOcWz7vOjMJAKn7TLeoqoFW
[5] Tổ ba đời của HQL là Hồ Liêm (theo Đại Việt SKTT – Bản kỷ – Quyển VIII, trang 293, dòng 26 từ trên xuống “Quý Ly là cháu 4 đời của Huấn”(cả HQT trong HHVN CNVPT cũng viết sai)- HMC đính chính






Để lại một bình luận